Lastest Articles

Hiển thị các bài đăng có nhãn Kinh phật. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Kinh phật. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 19 tháng 4, 2016

Hiểu biết về Phật giáo: Hôn lễ

0 nhận xét

I Theo truyền thống DÂN TỘC:
 Việc kết hợp thành vợ chồng, quy luật luân lý của dân tộc Việt Nam muốn bắt buộc phải sống chung với nhau trọn đời. Hai bên cần phải hiểu biết lẫn nhau. Nhân đó cổ nhân đặt ra lễ nghi trang trọng để ràng buộc nhau về mặt tinh thần, ngoài những ràng buộc về giáo luật và pháp luật.
 Ngày trước gồm có 6 lễ: (Sách xưa có câu : “Lục lễ bất bị, trinh nữ bất xuất”.
1/ Nạp thái(chạm ngõ, dạm hỏi): Ðến nhà gái ngõ ý muốn chọn một người con gái trong gia đình ấy.
Sau khi đôi trai gái gặp nhau có ý định đi đến việc hôn nhân, người mai mối hẹn ngày đưa cha mẹ nhà trai, chú rể và lễ vật (cau trầu) đến nhà gái xin đính ước. Từ đây đôi bên giữ tình giao hảo, trao đổi tin tức (tên tuổi, gia thế, sự nghiệp) chứ chưa có trách nhiệm hẳn về hôn nhân.
2/ Vấn danh: Nhà trai hỏi tên tuổi người con gái. Rõ ràng hơn là muốn biết thân thế và sự nghiệp của người con gái.
3/ Nạp cát: Xác nhận nhà trai đã ưng thuận về hôn nhân giữa đôi trai gái. Vì đã có những thuận lợi cần thiết và thích ứng ( quẻ tốt, hạp tuổi).
4/ Thỉnh kỳ: Xin nhà gái ấn định ngày làm lễ cưới. Ngày trước chú trọng đến ngày tốt xấu, hạp hay cấm kỵ, thường nhà trai cho ngày đã chọn,để nhà gái kiểm soát lại.
5/ Nạp tế: Ðưa sính lễ tới nhà gái.
Không rõ các cổ lễ ấy bắt đầu tứ bao giờ, nhưng qua thời gian lưu dụng, các lễ vấn danh, nạp cát, thỉnh kỳ, nạp tế được thu gọn làm một lễ gọi là “ăn hỏi”: Người mai mối đưa cha mẹ đàng trai, chú rể, mấy người họ hàng thân thuộc, với lễ vật (trầu rượu, bánh mứt, nhẫn hỏi, nữ trang) đến nhà gái, xin làm lễ cáo gia tiên. Từ hôm nay được tuyên bố ưng thuận hứa hôn giữa đôi trai gái với họ hàng và bạn bè. Kể từ nay hai nhà phải có nghĩa vụ: thăm viếng, quà biếu mỗi dịp lễ tiết. Và có trách nhiệm bảo vệ sự hứa hôn, một bên có lỗi với việc hôn phối, bên kia có quyền khiếu tố trước tòa, đòi bồi thường, ít nhất là phần danh dự.  
6/ Thân nghinh (lễ cưới): Lễ đón dâu về nhà chồng.
a/ Xin dâu (xin giờ): Bà mẹ chồng (hay người đại diện) đem một khay trầu rượu vào nhà gái vài giờ trước buổi lễ để cáo gia tiên gọi là lễ xin dâu hay lễ trình giờ.
b/ Ðón dâu ( lễ cưới); Một người đàn ông vui vẻ, hoạt bát đứng đầu ngõ đón chào họ nhà trai.
Ðoàn họ trai gồm có: Một cụ già (tính tình hiền lành, vợ chồng song toàn, nhiều con cháu) đi trước, cầm một bó hương hay một đỉnh trầm, tục gọi là Tơ Hồng (nay thường thay bằng một bó hoa). Kế tiếp là đoàn dẫn lễ vật như hai lồng đèn, hai lọng che, mâm cau trầu, rượu, bánh mức, ngỗng lợn (cau lồng, rượu ché, heo đóng cũi, ngỗng mặc áo), một quả hộp trầu têm (trầu đã cắt ra điểm vôi vào gói lại, cau bổ ra 12 miếng) và một quả hộp nữ trang, nhẫn cưới (hai quả này phải nhờ người song toàn, hiền hậu dẫn lễ), một khay trầu rượu (chỉ năm miếng trầu) đi với chủ hôn, bất cứ một việc gì phải đưa khay trầu ra trước (nên nhớ thay cau trầu rượu mới mỗi lễ), một kiệu hoa (nay là xe hoa). . . Chú rể khăn áo chỉnh tề, cùng với các người trong họ đi đón dâu (số lượng được ấn định trước, thường được chọn vợ chồng song toàn,từng cặp chẵn). Sau khi mọi người vào vị trí (an tọa), đại diện nhà trai (chủ hôn hay ông mai) mở lời: mục đích buổi lễ, trình lễ vật, xin được khấu lễ gia tiên. Nhà gái: nhận lời, đệ nạp lễ vật lên án thờ, cáo gia tiên, mời đại diện nhà trai làm lễ, cho cô dâu chú rể làm lễ (kể cả nhà thờ tổ, họ nội họ ngoại của cô dâu). Việc mang nhẫn cưới và nữ trang, ngày trước được kiểm nhận kỹ càng và mang vào buồng riêng cho cô dâu, ngày nay thường được thực hiện ngay tại sảnh đường. Xin cho cô dâu chú rể lễ mừng tuổi ông bà cha mẹ vợ (ngày trước phải lạy sát đất, thời vua Bảo Ðại cho phép vái 3 vái với người sống, có gia đình cho miễn lễ). Tiếp theo cô dâu chú rể được đưa đi chào mừng bà con họ hàng đang dự lễ. Gặp mỗi người đều nhận được lời chúc phúc, khuyên bảo, và quà tặng. Sau đó nhà gái mời hai họ nhập tiệc.
c/ Ðưa dâu: Khi xong tiệc, đến giờ rước dâu, đại diện nhà trai (trầu rượu) trình bày với nhà gái xin đón dâu.
Ðoàn đưa dâu, họ gái gồm có: Một cụ già cầm bó hương hay đỉnh trầm (nay là bó hoa) đi trước, kế tiếp là bà con họ hàng nhà gái dẩn cô dâu, theo cô dâu là phụ dâu, ngày xưa có một cô theo giúp đỡ mang vật dụng áo quần. Thông thường cha mẹ vợ không đi đưa dâu.Khi đến nhà trai, ngay ngõ đã có người bưng khay trầu mời khách nhà gái. Bà mẹ chồng đón dâu tại cửa đưa vào nhà, cô dâu được đưa về phòng nghỉ mệt trong chốc lát trở ra lần lược làm lễ: Lạy gia tiên, nhà thờ bên cha mẹ chồng, làm lễ Tơ Hồng (đặt bàn trở mặt ra ngay trước sân, với bài văn tế như sau “Việt nam , năm . . . tháng . . . ngày . . . Chủ hôn . . . cưới vợ cho con trai (trưởng) tên . . . , lấy (thứ) nữ của . . . , tên là . . . làm vợ. Nay nhân chọn được giờ tốt, kính dùng hương hoa, tửu quả, thứ phẩm chi nghi, kính dâng lên: Chưởng quản việc hôn phối ở nhân gian, Nguyệt Lão Thiên Tiên. Kính thưa: Ðạo vợ nghĩa chồng, Muôn phúc ở trong, Nay gặp ngày tốt, Xin tạc chữ Ðồng, Chuốc chén rượu trong, Kính dâng lễ bạc, Nguyệt Lão ngửa trông, Dám xin Ngọc Giá, Soi thấu tấm lòng, Trúc mai sum họp, Vợ vợ chồng chồng, Trăm năm đôi lứa, Dòng dõi ngày đông. Cẩn cáo”. Mừng tuổi ông bà cha mẹ chồng, chào mừng họ hàng ( như bên nhà gái). Sau hết nhà trai mời hai họ nhập tiệc. Khách mời đi họ không được bỏ ngang về trước, vì như thế không hên cho đám cưới.
Hợp cẩn: tối hôm cưới, khi nhập phòng , người chồng lấy khay trầu tế Tơ Hồng trao cho vợ một miếng, mình một miếng; rót một ly rượu uống chung mỗi người một nửa, gọi là lễ hợp cẩn    
Nhị hỷ, Tứ hỷ: Cưới được hai ngày, vợ chồng đem nhau về thăm bên nhà vợ gọi là nhị hỷ, nếu đường xa có thể cách bốn ngày gọi là tứ hỷ.
Lệ nộp cheo: Khi đám cưới, bên họ nhà trai phải nộp tiền cheo cho bên họ nhà gái. Có nhiều loại cheo (làng, họ, xóm, giáp) tùy theo khoán ước của địa phương. Mục đích là giới thiệu với địa phương cô gái lấy chồng. Ngày xưa việc nộp cheo là một sự bắt buộc, mặc dầu số tiền chỉ là tượng trưng thôi. Ngoài ra còn nhiều tục lệ đặc biệt được áp dụng tùy địa phương (có tính cách di đoan, cổ hủ).
Hiện nay lưu hành 3 lễ chính: Dạm hỏi, lễ hỏi, Lễ cưới. Tùy theo địa phương, mức độ sinh hoạt xã hội, tài chánh . . . mà áp dụng, bày biện lễ cưới cho hài hòa vui vẽ, giữ gìn bản sắc dân tộc.
II Theo truyền thống PHẬT GIÁO:
Ngày xưa ở Ấn Ðộ Thái tử Tất Ðạt Ða kết duyên cùng công chúa Da Du Ðà La theo phong tục và lễ nghi hoàng triều, có con trai là La Hầu La, ngài mới xuất gia. Sau khi thành đạo, đệ tử của ngài có 4 chúng, hàng xuất gia có hai: Tăng, Ni có một đời sống độc thân phạm hạnh đầy đủ giới luật. Hàng tại gia có hai: Ưu Bà Tắc (thiện nam), Ưu Bà Di (thiện nữ) giữ tam quy, ngũ giới có đời sống bình thường, yểm trợ tăng đoàn giáo phẩm. Do đó viêc lập gia đình cũng được ngài nhắc nhở, giáo huấn. Như bổn phận của mỗi người: chồng vợ, cha con, anh em, thầy trò đều có kinh để lại. Ðặc biệt về người vợ, có kinh:
1/ Kinh bảy loại vợ: ‘’ Chính tôi được nghe, một buổi sáng nọ, Ðức Phật đến dự lễ cúng dường tại nhà của cư sĩ Cấp Cô Ðộc. Khi thân hành tới nơi, Ðức Phật thoáng nghe những lời chửi bới ồn ào vọng lên từ sau nhà. Ngài hỏi cư sĩ Cấp Cô Ðộc rằng: - Này cư sĩ, trong nhà có việc gì mà ồn ào như thế ?
Cư sĩ Cấp Cô Ðộc thẹn thùng cung kính thưa rằng: - Bạch Ðức Thế Tôn, đó là sự ngỗ nghịch lớn tiếng của nàng dâu của con, Su-cha-ta. Tuy là dâu trong gia đình, nhưng nó ỷ vào sự giàu có của gia đình cha mẹ ruột nên nó thất lễ, không chịu vâng lời, không biết cung kính cha mẹ chồng. Bạch Ðức Thế Tôn, ngay cả chồng nó, nó cũng xử sự thô lỗ và vô lễ như vậy. Ngoài ra, nó cũng không biết cung kính đảnh lễ những Bậc Ðạo Sư. Dù biết Thế Tôn thân lâm, nó cũng không tỏ ra trọng nể, vẫn ồn ào lớn tiếng nãy giờ, Kính xin Thế Tôn từ bi cảm hóa nó.
Lúc bấy giờ Ðức Phật cho gọi nàng dâu ra và dạy rằng: - Này Su-cha-ta, có bảy loại vợ trên đời này. Con hãy chín chắn suy nghĩ, so sánh và trả lời cho Như Lai biết con thuộc loại vợ nào:
- Một là vợ như kẻ sát nhân
- Hai là vợ như người ăn trộm
- Ba là vợ như chủ nhân
- Bốn là vợ như người mẹ
- Năm là vợ như người em
- Sáu là vợ như người bạn
- Bảy là vợ như người hầu.
Với gương hạnh hiền từ, cứu độ của Ðức Phật, nàng dâu bắt đầu tỏ ra vâng phục rồi lễ phép thưa:
 - Bạch Ðức Thế Tôn, lời dạy của ngài quá ngắn gọn, con không thể hiểu được. Kính xin ngài từ bi chỉ dạy cặn kẽ thêm.
Lúc ấy, Ðức Phật ân cần dạy như sau:
- Một là, người vợ nào có tâm địa hiểm độc, hai lòng không chung thủy trong hôn nhân, bỏ rơi chồng mình, quan hệ bất chính với các đàn ông khác chỉ vì choáng ngộp trước sự giàu có hay vẻ bề ngoài của họ, khinh bỉ chồng và tính tình hiếu sát. Người vợ như vậy, Như Lai gọi là loại vợ sát nhân.
- Hai là, người vợ nào không chung lo kinh tế gia đình, trái lại còn tiêu xài hoang phí tài sản hợp pháp của chồng tạo ra. Người vợ như vậy, Như Lai gọi là loại vợ trộm cướp.
- Ba là, người vợ nào sống ỷ lại, lười biếng, không có lời từ ái, nhu hoà với chồng mà chỉ biết phát ngôn thô tháo, lấn lướt chồng. Người vợ như vậy Như Lai gọi là vợ chủ nhân.
- Bốn là, người vợ nào biết thương yêu chăm sóc, giúp đỡ chồng, biết cách giữ gìn và làm giàu tài sản của chồng như một người mẹ lo lắng chu tất cho con cái. Người vợ như vậy, Như Lai gọi là loại vợ như mẹ.
- Năm là, người vợ nào thùy mỵ, đoan trang, khiêm tốn, biết chiều chuộng và thuận phục chồng mình như đối với một người anh trong gia đình. Người vợ như vậy, Như Lai gọi là loại vợ như em.
- Sáu là, người vợ nào luôn luôn niềm nở, vui vẻ hoà thuận với chồng như thể khi hội ngộ một người bạn thân từ lâu mới gặp lại. Luôn giữ tiết hạnh và thủy chung với chồng. Người vợ như vậy, Như Lai gọi là loại vợ như bạn.
- Bảy là, người vợ nào luôn mềm mỏng, không nóng tánh, không sân hận, giận dỗi. Dù bị chồng đối xử không đẹp nhưng vẫn nhường nhịn, không tỏ thái độ lỗ mãng, lớn tiếng. Trái lại còn biết tùy thuận để khuyên răn và chinh phục chồng mình. Người vợ như vậy, Như Lai gọi là loại vợ như người hầu.
-Này Su-cha-ta, trong bảy loại người vợ mà Như Lai vừa nói, ba hạng đầu là loại vợ như sát nhân, như những người bất hảo, do đó con nên xa tránh. Những hạng vợ như vậy do sống không giới hạnh, ác khẩu và vô lễ, sau khi qua đời phải sanh vào cõi xấu. Bốn loại vợ sau là đáng tôn kính và noi theo. Ðó là vợ như mẹ, vợ như em, vợ như bạn và vợ như người hầu. Những hạng vợ này khi sống thì tạo ra hạnh phúc cho gia đình và con cái; khi qua đời thì được sanh vào cõi lành.
            Nghe Ðức Phật ân cần giáo dục, nàng dâu của cư sĩ Cấp Cô Ðộc tỏ ra ân hận và thành tâm sám hối. Nàng phát nguyện sẽ chung sống và phụng sự chồng với tư cách như người hầu. Từ đó, gia đình của cư sĩ Cấp Cô Ðộc trở nên đầm ấm, an lạc và hạnh phúc thật sự.
            Nam mô Bổn Sư Thích ca Mâu ni Phật. (3 lần, 3 xá)
2/ Kinh người vợ mẫu mực: “ Chính tôi được nghe, lúc Ðức Thế Tôn còn lưu trú tại vùng Ba-ga thì sự việc này xảy ra. Cha và mẹ của Na-ku-la là một trong những cặp vợ chồng giàu có nhất ở vùng này. Họ cũng còn là các Phật tử thuần thành, gương mẫu. Càng về già, cha của Na-ku-la càng lâm trọng bệnh. Một hôm nọ, bệnh của ông trở nên ngặt nghèo hơn nhưng vợ ông vẫn bình tĩnh và khích lệ chồng đúng tinh thần chánh pháp.
-Anh thương yêu của em, chúng ta là đệ tử của Ðức Thế Tôn, chớ rời bỏ xác thân này với một tâm hồn còn đầy luyến ái, vì đây là nghiệp cuối đời không tốt cho sự tái sinh. Thế Tôn luôn quở trách điều này.
- Anh thương yêu của em, người hãy an nhiên mà ra đi, đừng có bận lòng, lo lắng: “Vợ ta sẽ không đủ sức nuôi dưỡng các con và không thể xoay sở nổi cho gia đình” Xin anh chớ có lo lắng như vậy. Về phần mình, em sẽ cố gắng dệt vải nhiều hơn, chải lông cừu nhiều hơn. Em có thể thay thế anh nuôi nấng và giáo dục cho con cái nên người. Em sẽ lo chu tất cho gia đình mình.
- Anh hương yêu của em, anh chớ lo lắng: “Vợ ta sẽ bước thêm một bước nữa, sẽ tái giá với người khác”. Trong suốt bao nhiêu năm chúng ta chung sống, anh đã dư biết tiết hạnh của em như thế nào rồi. Em sẽ giữ tiết hạnh ấy cho đến suốt đời. Xin anh chớ có ra đi với một tâm hồn còn đầy ái luyến. Thế Tôn luôn quở trách điều đó.
- Anh thương yêu của em, xin chớ có lo lắng: “Vợ ta sẽ không tiếp tục vâng giữ giới hạnh đầy đủ, sẽ không còn tu tập, sẽ không thể đi vào và sống trong chánh pháp của Ðức Thế Tôn.” Xin anh hãy an tâm, khi nào em còn là đệ tử của Ðức Thế Tôn thì khi đó em sẽ còn vâng giữ, tu tập, và sống với chánh pháp.
- Anh thương yêu của em, đó là những điều tâm huyết của em mà bản thân anh cũng đã thừa biết trong những năm tháng chúng ta chung sống hạnh phúc bên nhau, em xin nhắc lại để anh an tâm. Nếu có điều gì nghi vấn, anh có thể cho người đến thưa hỏi Thế Tôn, hiện nay Ngài đang lưu trú ở vùng Ba-ga. Xin anh hãy an nhiên dù có phải ra đi. Chớ để tâm tư bị vẩn đục bởi những lo lắng, ái luyến trong giờ phút quan trọng này.
            Nghe những lời nhắc nhở chân thành, đầy thương mến của vợ, sức sống của ông dường như trỗi dậy hơn bao giờ hết. Ông toát mồ hôi, cảm thấy thoải mái lạ thường và biết rằng mình vừa thoát qua cơn bệnh trầm kha. Ông vô cùng cảm động và sung sướng. Vài hôm sau, ông và vợ thân hành yết kiến Ðức Thế Tôn, bày tỏ niềm hạnh phúc của mình. Sau khi nghe ông trình bày, Ðức Phật liền dạy rằng: - Này gia chủ, thật là một diễm phúc cho ông được vợ khéo khích lệ, nhắc nhở trong lúc lâm trọng bệnh. Ông hãy an tâm. Những lời của nữ gia chủ, vợ ông đều đúng với những gì Như Lai đã dạy. Nữ gia chủ, mẹ của Na-ku-la là một người vợ lý tưởng.
            Khi nghe Ðức Phật xác tín và tán thán, các cập vợ chồng có mặt lúc đó đều vui mừng và phát nguyện sống vì hạnh phúc cho nhau ở đời này và đời sau.
            Nam mô Bổn sư Thích ca Mâu ni Phật (3 lần, 3 xá).”
***
Phật giáo vào Việt Nam chủ yếu là con đường giải thoát, cứu khổ. Việc hôn lễ trong dân gian không có gì trở ngại với niềm tin tôn giáo. Do vậy sau mỗi hôn lễ theo truyền thống dân tộc, các tín hữu thường về chùa làm lễ cầu an gọi là lễ “hằng thuận”. Ngày nay vì nhu cầu cuộc sống không có thì giờ tổ chức nhiều lễ lược, phần đông muốn kết hợp tổ chức đám cưới tại chùa. Quý thầy cũng đã hoan hỷ giúp đỡ tín hữu hoàn thành hôn lễ. Tuy nhiên mỗi chùa, mỗi thầy làm theo thanh quy riêng của chùa mình nên chưa có đồng nhất. Nhưng một hôn lễ tại chùa thường được diễn tiến như sau:
Vân tập trước sân chùa  hay sau nhà Tổ, hai họ: nhà trai bên trái, nhà gái bên phải. Cách ăn mặc, sắp xếp thứ tự theo truyền thống dân tộc, tuỳ nghi không bắt buộc, thông thường: cô dâu, chú rễ, cha mẹ, bà con, bạn bè. Tất cả vào chánh điện, đứng hai bên đối diện nhau, cô dâu chú rể đứng ở giữa, thầy phụ lễ (hay một cư sĩ trong chùa) hướng dẫn cô dâu chú rể đi thỉnh sư quan lâm chánh điện cử hành hôn lễ. Khi đến Tăng đường, cô dâu chú rể nghiêm chỉnh vái chào, (đọc) tác bạch. Sư hứa khả (nhận lời). Lạy hay vái chào, bắt đầu thỉnh sư: Một người bưng khay lễ (hoa và đèn), một người đánh khánh dẫn, Tăng đoàn thông thường 4 Sư (có lọng che), đàng sau là cô dâu chú rể. Khi thầy vừa đến chánh điện mọi người chấp tay niệm Phật nghênh tiếp. Thầy tiến thẳng lên pháp tòa, cô dâu chú rể vào vị trí ấn định (giữa chánh điện). Ðằng sau hoặc hai bên là phụ dâu và phụ rể.
Lễ chính thức:
1/  Ba hồi chuông trống Bát Nhã chấm dứt, lên đèn,dâng hương cúng Phật bằng một thời kinh ngắn :
“- Nguyện hương: . . .
 - Kỳ nguyện: Tư thời Việt Nam quốc, . . . cung tựu . . .tự (chùa), đăng lâm bảo điện, cung đối Vạn đức Từ dung, tu hương thiết cúng. Kiền thỉnh Tăng già phúng tụng huyền văn, chuyên vì lễ tân hôn kỳ phước chi sự.
Kim thiện tín Phật tử: Nam chủ hôn tánh . . .Nữ chủ hôn tánh . . .hiệp tín chủ đẳng.
Thiết niệm: Thiện tín đẳng, thân sanh tử nữ, tánh: (tên của tân lang và tân giai nương) sanh cư Dục giới, nghiệp hệ túc duyên, hiệp ưng nghi thất nghi gia, thành liễu hữu tình quyến thuộc, hoàn nguyện đống tu đồng giải, kỳ quy Vô thượng Bồ đề. Tư giả: thời duy ngoạt, tiết xuân (ha, thu, đông) thiên. Thanh tịnh hương hoa, hiển mật viên chi diệu vị, trang nghiêm phạm võ, phần giới định chi chơn hương, bái bạch Tam bảo Từ tôn, chứng minh gia hộ. Nam mô chứng minh sư Bồ Tát .
- Ðảnh lễ: Chí tâm đảnh lễ . . .
- Tán: Dương chi . . .
- Tụng: Ðại bi . . .
- Bát nhã . . .
- Tiêu tai thần chú . . .
- Nguyện trú kiết tường . . .
- Hồi hướng: Hằng thuận công đức thù thắng hạnh . . .
- Tân hôn phục nguyện: Cung văn, trí quang tịch chiếu, vĩnh vi tam giới chi đạo sư, bi nguyện hoằng     thâm, phổ tác tứ sanh chi từ phụ. Ðơn tâm củng bắc, tế thủ hòa nam. Thượng lai xưng dương Phật hiệu, phúng diễn tôn kinh, tập thử công đức, chuyên vì tín chủ Phật tử, tân hôn lễ kỳ phước sự.
Phục nguyện: quảng thùy tỷ hộ, thường giáng trinh tường, bảo tân hôn cầm sắc hòa hài, niên niên hưởng vô biên phước quả. Ðạo đại chúng vô nhơn vô ngã, sanh sanh hoằng bất diệt pháp môn.
Phổ nguyện : Thọ miên miên viễn, hưởng bá tuế chi hà linh, pháp giới hữu tình, tề thành Phật đạo
Nam mô A Di Ðà Phật.
- Tam tự quy. . .
2/ Thầy ban một thời pháp (giảng hay đọc theo lời kinh). Ðơn cử một Huấn Thị (bài giảng):
 Nam mô A Di Ðà Phật.
Hôm nay, ngày lành tháng tốt, hai cháu cùng về chùa làm lễ Phật; chư Tăng và thân nhân của hai cháu ở trước Phật đài làm lễ cầu nguyện Phật, Bồ Tát gia hộ cho đời sống của hai cháu được luôn luôn và vĩnh viễn an lành.
Bổn phận làm cha mẹ, trông con khôn lớn, đến tuần cập kê, định đôi bạn, lựa chọn nhà có đức hạnh nhân từ, con hiền cháu thảo, để gây dựng hạnh phúc cho gia tộc, duy trì giòng giống con Lạc cháu Hồng.
Vậy, muốn lập nên gia nghiệp với đời, cần phải có chồng có vợ, đồng ưu cộng tác, trên thuận dưới hòa, thì chắc chắn gia nghiệp được thành tựu. Nên sách có câu: “Phu phụ hòa gia đạo thành”,vợ chồng đồng một lòng thì dù biển đông tát cũng cạn. Vậy, hai cháu làm sao ăn ở cho có nhân, có nghĩa, có đức, có hạnh; chồng hòa vợ thuận thì đường đời của hai cháu sẽ được vinh quang. Lại muốn xứng đáng là người Phật tử, trong đời sống hàng ngày cuả hai cháu, phải tôn trọng danh dự nhau, nhắc nhở nhau. Không nên va chạm tự ái nhau. Luôn luôn nói lời chơn thật, không bao giờ lừa dối nhau, lúc nào cũng phải trung thành với nhau, phải nghiêm khắc lấy mình mà khoan dung cho bạn.
Ngoài ra, phải tôn kính cha mẹ và các bực trưởng thượng, thương yêu và nâng đỡ cho đàn em, nhất là góp phần phụng sự Tam Bảo.
Giờ đây, thầy xin nhắc nhở hai cháu để biết bổn phận mà làm. Như trong kinh Phật đã dạy:
-Bổn phận vợ đối với chồng nên như thế này: Luôn luôn phải kính yêu và hòa thuận với chồng. Khi chồng ra đi và lúc trở về, vợ phải đón đưa niềm nở. Khi nào chồng có nóng giận nặng lời, vợ không nên bừng mặt cãi lẫy, làm cho mất vẻ thuận hòa, có khi phải rã rời giềng mối. Khi nào chồng có lời khuyên dạy chánh đáng, vợ phải vâng theo. Luôn luôn phải trung thành với nhau, giữ gìn tiết hạnh, không được ngoại tình. Ðó là bổn phận vợ đối với chống.
-Bổn phận làm chồng đối với vợ phải nên như thế này: Khi vợ ra đi và lúc trở về, chồng phải đón đưa niềm nở. Phải ăn uống có giờ khắc, để cho vợ khỏi phải phiền lòng, vì nấu nướng không chừng mực. Phải tùy phận nghèo, giàu của mìnhcho vợ được mua sắm quần áo và đồ trang sức vừa theo sở thích, không nên hẹp lòng làm trái ý vợ. Phải tin cậy vợ mà phó thác cho công việc nhà. Không được sanh tâm tà vạy, sớm mận tối đào, làm cho vợ ghen tương sầu khổ. Ðó là bổn phận làm chồng đối với vợ.
-Bổn phận làm dâu con đối với cha mẹ chồng nên như thế này: Phải có lòng hiếu kính cha mẹ, tùy thuận lời cha mẹ dạy bảo, không được cãi lại. Phải ngủ sau dậy trước, lo cơm nước cho chu đáo. Phải làm công việc nặng nhọc trong nhà cho cha mẹ. Phải luôn luôn nhớ đến công ơn cha mẹ sanh thành dưỡng dục chồng mình, mà bổn phận làm dâu con có trách nhiệm nối dòng dõi cho gia nghiệp chồng. Khi cha mẹ chồng có đau ốm, làm dâu con phải chăm nom thuốc thang, thay đổi thức ăn uống, cầu cho cha mẹ chóng lành khỏi, để trong nhà được an vui. Ðó là bổn phận làm dâu con đối với cha mẹ chồng.
-Bổn phận làm con rể đối với cha mẹ vợ nên như thế này: Phải có lòng kính yêu cha mẹ vợ như cha mẹ mình. Có mặt hay không có mặt cha mẹ vợ, không nên có một lời bất bình hoặc bất kính. Phải nhớ công ơn cha mẹ vợ, có công sanh thành dưỡng dục vợ mình, coi như vàng ngọc mà đem ban cho mình. Khi cha mẹ vợ cần đến việc gì nhờ con rể, hãy vui vẻ sẵn sàng, không sợ nhọc mỏi. Ðó là bổn phận làm con rể đối với cha mẹ vợ.
Vậy có mấy lời thay mặt chư Tăng, thầy xin khuyên hai cháu nhớ gắng ghi mà thực hành thì sẽ được vui vẻ suốt đời, bá niên giai lão để nối truyền gia nghiệp, được hiển tổ vinh tông, làm cho gia tộc sum vầy, vinh vang cho hai họ.
3/ Cho cô dâu chú rể đọc 5 lời nguyện sống y chánh pháp. . .
4/ Thầy trao nhẫn cưới: (Bước ra trước cô dâu chú rể, cầm hộp nhẫn).
-Ðây là hai bảo vật: tượng trưng cho sự bền chắc, kiên cố; Có đặc tính sáng suốt, tốt đẹp. Thầy trao cho hai cháu, mong cho hai cháu được đạo tâm kiên cố. Tốt lành trong hành vi, ngôn ngữ; sáng suốt trên đường đời cũng như trên đường đạo.
 -Nầy hai cháu luôn nhớ chữ “NHẪN” suốt hành trình bên nhau.
(cô dâu chú rể nhận nhẫn mang vào cho nhau,thầy có thể cho cô dâu chú rể vái chào nhau theo nghi thức).
5/ Cha mẹ đôi bên khuyên bảo,trước sự chứng kiến của thầy. Thầy có thể cho cô dâu cú rể lạy tạ ơn cha mẹ.
Ngoài ra, hoàn cảnh cho phép muốn tổ chức trang trọng hơn: Tụng kinh Dược Sư trước lễ, vào lễ có đoàn dâng hoa cúng Phật, có múa lân chào khách và chúc mừng đôi tân lang, trai Tăng cầu phúc, tiệc chay tại chùa để bà con có dịp hàng huyên chúc tụng. Trong những năm gần đây việc tổ chức đám cưới tại chùa khá phổ thông không những ở trong nước mà ở nước ngoài, hai bên trai gái khác quốc tịch vẫn được đưa đến chùa làm lễ thành hôn, có kết quả tốt đẹp trong cuộc sống lứa đôi.
more.

Hiểu biết về Phật giáo: Hiếu lễ

0 nhận xét

Một nghi thức tiễn biệt người quá cố theo truyền thống Phật giáo Việt Nam qua các lễ lược như sau:
1- Trị quan nhập liệm: Một người mất (chết), trút hơi thở cuối cùng. Sau đó ít nhất là 4 giờ, tốt hơn hết là sau 24 giờ, được tắm rửa sạch sẽ, đưa vào một cái hòm gỗ (quan tài) bằng một nghi thức như sau: Dùng một chén nước trong, một cây đèn nến (sáp) gắn vào một cái cây gác trên một góc hòm. Vị gia trì sư dùng tam mật tương ưng (tay kiết ấn, khẩu đọc thần chú, Ý quán tưởng Phật) tẩy sạch quan tài và vật dụng tẩm liệm. Ðưa thi hài vào quan tài. Thi hài thường được mặt một chiếc áo Quan Âm (mền Quang Minh). Theo cổ tục có nơi còn bỏ gạo hay vàng ngọc vào miệng thi thể.
2- Phục hồn: Thiết lập một bàn thờ Linh có linh ảnh, bài vị, bát nhang. Thỉnh vong linh an vị, để cho thần thức định tỉnh nhận rõ sự việc đang phải lìa thể xác. Vì theo quan niệm thần thức của người mất lúc bây giờ đang bơ vơ, sợ sệt, chưa ý thức được đang gặp sự việc gì. Theo cổ tục dân tộc có một bát cơm (hai chén úp một),cấm lên hai chiếc đủa và một cái trứng luộc.
3- Khai kinh- Tiến linh: Thiết lập bàn Phật, thỉnh Phật chứng minh và siêu độ sự ra đi của vong giả. Tụng kinh để hương linh làm tư lương hướng Phật. Khuyến tấn hương linh quy y Phật, dứt nghiệp trần lao.
4- Phát tang: Ðể cho bà con thân bằng quyến thuộc có cơ hội từ giả biệt luận với vong giả. Một hình thức ghi nhớ ơn đức, hiếu hạnh trong gia tộc. Ðặc biệt trong nghi thức này vị gia trì sư lại dùng tam mật tương ưng chú nguyện vào tang phục và xướng : “Ngũ phục chi nhơn các thọ kỳ phục” trao cho tang gia mặc vào người. Từ giờ phút này mới chính thức báo tang, bà con thân hữu mới thăm viếng với tư cách tang lễ.
5- Triêu điện: Trong thời gian chưa chôn, các lễ cúng cho hương linh goị là “điện”. Vậy triêu điện là một lễ cúng buổi sáng gần ngày đưa đám, thường giành riêng cho bà con muốn làm một lễ cúng riêng, đọc ai điếu, lời từ biệt.
6- Tịch điện: Lễ cúng buổi tối gần ngày đưa đám, thường giành cho con cháu nội tộc, để con cháu có cơ hội nói lên ơn nghĩa, những hình ảnh thân thương, tưởng niệm đến công hạnh của người quá cố. Còn thường ngày 3 buổi: sáng cúng trà; trưa, chiều cúng cơm dùng hình thức nghi lễ đơn giản gọi là “tiến linh”.
7- Triệu tổ: Lễ này thường được cừ hành trước ngày di quan khoảng 2 hôm trở lui. Tang quyến thỉnh linh vị, di ảnh, bát nhang đầy đủ lễ vật đến tự đường (nhà thờ họ). Ðặt linh vị trên một cái bàn nhỏ đối diện án thờ gia tiên. Thí dụ án thờ ở phía tây, linh vị ở phía đông, con cháu tang quyến ở phía nam; cất gậy, mũ mấng đi để làm lễ cáo tổ tiên.
8- Sái tịnh, nhiễu quan và quy y linh: Trong lúc đại chúng đang tụng chú Ðại Bi, vị chủ sám dùng bình Cam Lồ vào tẩy tịnh quan tài, chú Ðại Bi vừa dứt, sám chủ thán: “Giác tánh viên minh, tùng lai trạm tịch; bổn lai nhơn ngã chi huyễn tướng, hà hữu sanh tử chi giả danh? Nhơn tối sơ nhất niệm sái thù, tùng mộng tưởng hữu tư sanh diệt.
Tuy nhiên:
Diệt nhi bất diệt, Tằng Ðạt Ma chích lý Tây quy.
Sanh nhi bất sanh, Nãi Thích Tôn song lâm thị tịch.
Nhược phi nhất nhơn, hiểu liễu nan miễn tứ đại tương man,
Cố nhơn thiên thượng, hữu luân hồi khởi phận, thử đắc vô sanh diệt.
Kim vị tang chủ: . . .        Thống duy:
Hương hồn quyên tam xích chi xu, nhập cữu tuyền chi lộ.
Lâm thời hoảng hốt, phách tán hồn phiêu.
Tuy nhiên, thuận thế gian:
Sanh viết ký, tử viết quy, bất xuất tử sanh chi nội; nãi nhược thăng vu thiên nhi giáng vu địa. Tổng quy lục đạo chi trung, u quan ảm đạm minh tiền đồ, triễn nghiệp lực na năng giải thoát.”
Thỉnh linh yết Phật qui y, thuyết linh.
9- Cáo đạo lộ: Lễ này thường nhờ một người hộ tang đứng cúng, được cử hành trước một hôm đưa đám, đặt bàn cúng  trước cữa ngõ, ý nghĩa xin hộ đàng cho đám táng được yên ổn thuận lợi. Có gia đình tổ chức lễ cúng thí thực và phóng sanh nữa.
10- Khiển điện: Lễ này cúng trước khi di quan, thường dành cho bằng hữu tỏ bày tâm sự, tình cảm với hương linh qua điếu văn.
11- Di quan (động quan): Lễ di chuyển quan tài đi chôn hay hỏa táng, một lễ có nhiều xúc động nhất. Trong lễ này Gia trì sư thường đội nón Tỳ Lư và cầm tích trượng để hướng dẩn hương linh. Sau nghi thức cúng cấp xong, Gia trì sư xướng: - Cung thối, thỉnh bổngg danh sanh,  thần vị, linh ảnh thăng xa.
                                                Triệt linh sàng.
Thán:   Quy khứ lai hề quy khứ lai,
            Tây phương tịnh độ bạch liên khai.
            Nhất trận hương phong xuy hốt đáo,
            Hương linh thừa thử bộ kim giai.
Ngưỡng bạch Di Ðà từ bi phóng quang tiếp độ.
            Nam mô tiếp dẫn đạo sư A Di Ðà Phật.                      
12- Tế độ trung: Cúng giữa đường, lễ này với ý nghĩa: Trước tiên vì đường sá xa xôi, nghỉ xả hơi cho âm công (người gánh đám) lấy sức, đãi đằng ăn uống. Thứ đến để cho con cháu có dịp lễ lạy tỏ lòng hiếu thảo trong lúc nghỉ giải lao.
13- Trị huyệt: Một lễ làm tinh sạch huyệt, trước khi hạ quan tài.
Sái tịnh, trị quan, trị huyệt với ý nghĩa dùng nước Cam lồ làm tinh sạch nơi chỗ để xếp đặt thi thể, hay nơi thờ cúng. Còn có nghĩa chúng sanh nào đang ẩn trú vào nơi ấy xin đi nơi khác.
14- Tạ thổ thần: Lễ khấn vái thổ thần và những hương linh của những ngôi mộ chung quanh. Nay có huơng linh . . . cùng chung cư trú tại địa phận này.
15- Nhiễu mộ: Lễ này cử hành sau khi an táng xong; bái biệt hương linh, tạ chư Tăng, và quan khách đi dự đám táng.
16- An linh: Khi về đến nhà, chùa, an vị hương linh để hương khói thờ phụng. Ngày trước đưa về nhà, phải thiết bàn thờ riêng trong hai năm hoặc ít nhất là 100 ngày, sau mới được nhập vào bàn thờ chung với tổ tiên. Ngoài ra còn có lễ đề phan vị, đề thần chú, lễ khai môn (mở cửa mã): sau khi chôn ba ngày làm lễ khai môn để hương linh được phép ra vào.
Ngày trước vấn đề tang chế được xem rất quan trọng nên việc để tang được ấn định rõ ràng từng cấp phải để tang như thế nào, bao lâu đã được ghi trong sách Thọ Mai. Nên có rất nhiều lễ xã tang vào các thời kỳ như: bách nhật, một năm, hai năm, ba năm . v . v .
Trong nghi xã tang có các điểm trọng yếu như sau:
Sái tịnh: Người thọ tang quỳ trước bàn linh, Gia trì sư rãi nước Cam Lồ, lấy kéo cắt tượng trưng đồ  tang hay lấy khăn tang xuống.
Xướng: Ngũ phục chi nhơn, cát tựu trừ phục.
Tán hay tụng:
 Giải kết, giải kết, giải oan kết,
                        Giải liễu tiền sanh an hòa hiệp,
                        Tẩy tâm địch lự phát kiền thành
                        Cung đối án tiền cầu giải kết.
                        Nam mô Giải oan kết Bồ Tát (3 lần) 
Sau này thời gian bận rộn, cuộc sống vội vàng, không cho phép làm đám lâu ngày; Ðể phù hợp với nếp sống, chỉ còn một vài nơi như ở Huế còn giữ cổ lệ lễ lược như xưa, còn đại đa số nghi lễ được giản lược. Thông thường được gom lại làm các lễ chính như sau:1- Phát tang, 2- Cầu siêu, 3- Lễ táng (hỏa táng hay thổ táng). Việc ứng xử tùy theo hoàn cảnh và thời gian , gộp lại như vậy xem ra cũng gọn nhẹ về phần bày biện. Nhưng có nơi không giữ được ý nghĩa của cuộc lễ: Ba buổi lễ xem như giống nhau, trước bàn Phật, bàn linh, bài bản xướng tán không rõ rệt; đơn điệu, không diễn tả được nghi lễ đích thực nói lên hết ý nghĩ chư tôn cổ đức đưa ra nêu cao việc hiếu hạnh của con người.
Chúng tôi có cơ hội tham gia lễ lược giúp quý thầy, quý gia đình thân hữu: ở Huế trước và sau 1975 (quy y với thượng tọa Thích Ðôn Hậu năm1956, sinh hoạt khu vực chùa Ba La, Phú vang); ở Sàigòn (Gò vấp- Bình thạnh) trong đạo tràng Từ Quang thuộc chùa Vạn Hạnh (Hoà thượng Thích Minh Châu) từ 1984-1994, ở nam Cali trong ban hộ niệm chùa Bát Nhã (Thượng tọa Thích Nguyên Trí) tứ 1995-2002. Có lúc có thầy nhiều hệ phái khác nhau, có lúc vì hoàn cảnh, thời thế khó khăn không có thầy, nhất là vùng thôn quê hẽo lánh. Hơn nữa qua giao thiệp bạn bè khác tôn giáo, chúng tôi cũng có nhịp tham lễ táng của các tôn giáo bạn như: Thiên chúa giáo mặc dù việc làm lễ mới vay mượn phong tục tập quán Việt Nam sau này, nhưng các nhà thờ làm khá đồng nhất hài hòa. Nhất là Tin Lành mới đây làm theo trào lưu, nhưng sự sắp xếp khá đồng bộ. Trong lúc Phật giáo chúng ta, phải nói là thừa kế một rừng nghi thức, đơn có, kép có, lễ nhạc có. Chúng ta bình tâm nhận xét lối hành lễ mỗi đám một khác không đồng bộ, hài hòa, trong cộng đồng nhất là giới trẻ khó tiếp thu.
Thiết nghĩ đã đến lúc chúng ta nên chấn chỉnh cung cách cử hành tang lễ. Nắm vững các nét đặt trưng của tang lễ, giữ mối đạo, thu phục nhân tâm. Một tang lễ phải bao gồm các lễ chính như sau:
1-     Phát tang:
            a/ Khai kinh bạch Phật: Thiết bàn Phật, cung kính, nghiêm trang. khấn nguyện rõ ràng.
            b/ Trị quan nhập liệm: Ấn chú nghiêm minh, tẩy tịnh kỹ lưỡng với ý niệm lấy nước Cam lồ rữa sạch ô uế hoặc mời những chúng sanh nào còn ẩn trú trong quan tài xin lui ra.
            c/ Phục hồn, thành phục: Thiết bàn linh, thỉnh linh an vi, trong lúc này thần thức hương linh rất nhạy bén, nhưng rất sợ hải và dễ bị sân hận. Quy cách mặc đồ tang, chỉ cho tang quyến hiểu rõ ý niệm hiếu thảo qua cách để tang, cúng cơm.
2-     Cầu siêu: .
             a/ Sái tịnh: Gia trì sư làm phép tẩy tịnh quan tài lần này với ý nghĩa rữa sạch trần lao. Thán: Nhắc nhở hương linh ý thức sự sanh tử chỉ là giả tướng, không nên lưu luyến huyễn cảnh trần lao nữa. Nên thuận thế gian, nghiệp lực, phát tâm quy hướng Phật.
            b/ Thỉnh linh quy y: Thỉnh bát nhang, linh ảnh qua bàn Phật đảnh lễ và quy y, thuyết linh     nhiễu quan, hoàn cựu sở.
c/ Tịch điện: Cúng cơm tối, con cháu dâng điếu văn cảm niệm.
3-     Lễ táng:     
                         a/ Khiển điện, di quan: Cúng cơm, đọc điếu văn bằng hữu, hội hè. Làm lễ di quan.
                         b/ Trị huyệt, nhiễu mộ: Làm lễ trị huyệt, hạ quan tài, nhiễu mộ, lời cám ơn. Nếu hỏa táng      tụng kinh kỳ siêu .
                          c/ An linh: Sau khi chôn hay làm lễ hỏa táng xong, thỉnh bát nhang, linh ảnh về chùa hay nhà, an linh để hương khói thờ phụng ít nhất trong vòng 7 tuần lễ.
            Qua thời gian, hoàn cảnh và nếp sinh hoạt hiện nay đã hình thành 3 lễ chính như trên. Có nhiều thời gian kéo dài thì làm lễ từng mục một. Thông thường tang lễ 3 ngày thì làm thứ tự như trên. Nếu thời gian bức bách vội vàng trong một ngày, một buổi thì nắm những ý chính châm chước để hoàn thành tang lễ.
            Thực ra tang lễ ngày xưa rất rõ ràng chi tiết, có từng nghi thức, sớ điệp, tán thán thâm hậu, thống thiết. Nhưng với mục đích ứng phó đạo tràng, qua thời gian tôi xin ghi lại những điều cần thiết phải làm cho phù hợp với nếp sống ngày nay. Nếu khi không có Thầy, cư sĩ theo nghi thức rút gọn cũng có thể giúp nhau trong tang lễ. 
more.

Hiểu biết về Phật giáo: Làm tuần cho người quá vãng

0 nhận xét

          Lời Phật dạy:
            Ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ tát hỏi đức Phật: “Phàm người ở đời không hay tu phước tu huệ, sau khi chết rồi có con trai hay con gái hiếu thảo, thỉnh thầy tụng kinh Ðại thừa,lập đàn thủy lục hay làm chay lớn, để cầu siêu độ cho vong linh. Vậy các vong linh ấy, thật có thể siêu độ được không?”
            Phật đáp:”Phàm người ở đời lúc còn sanh tiền, không tu phước thiện gì, sau khi mất rồi, con cháu làm việc công đức tiến bạt, thì mười công đức, vong linh chỉ được ba phần. Tại sao vậy? Vì lập công làm phước, không gì hơn tiền tài của cải. Người sống đem của tiền và sức lực mình ra bố thí, thì những người đồng chung lo phận sự ấy được phước báo nhiều hơn vong linh. Trong khi làm việc phước đức ấy, mà thỉnh những người uống rượu ăn thịt, không thanh tịnh, đến tụng kinh lập đàn tiến bạt, thì thiên thần không giáng lâm, thánh hiền không đến dự, càng thêm tội lỗi khổ lụy cho vong linh. Nếu có con trai hay con gái hiếu thuận và chơn chánh, sau khi cha mẹ mất rồi, mỗi tuần 7 ngày, làm chay 7 thất; trong ba năm toàn gia trai giới, xuất tiền của thanh tịnh của mình,cầu thỉnh những vị tu hành đức hạnh trai giới tính nghiêm, đọc tụng kinh điển đại thừa, lập đàn thủy lục vô ngại, đại trai hương hoa trang nghiêm, đúng như pháp mà cúng dường, một lòng thành kính , thay thế hương linh, cầu xin sám hối, cởi mở tội lỗi, cầu xin phước đức cho vong linh; biết cách tiến bạt như vậy, thì vong linh được siêu thoát, hoặc sanh lên cõi trời; người sống cũng được phước . Người còn kẻ mất đều được thảnh thơi, nhơn gian vui vẻ, thần thánh hoan hỷ”( Ðại Thừa Kim Cang Kinh Luận)
            Sau đây là ý nghĩa can bản về việc làm tuần.

            1) Cách tính tuần: Theo Phật giáo Việt nam, người từ trần bất cứ giờ nào trong ngày,đều tính ngày ấy là ngày thứ nhất và tiếp tục đếm cho đến ngày thứ  49 là ngày chung thất, mỗi tuần là 7 ngày. Ngày chung thất còn được gọi là tuần Tứ Cửu, Thất Thất Lai Tuần, hay Tuần Ðịnh Nghiệp. Phật giáo Tây Tạng lại tính Tuần khác hơn. Nếu người chết sau giờ Ngọ thì ngày đó không tính là ngày thứ` nhất. Ví dụ: nếu người chết tắt thở lúc 3 giờ chiêù ngày thứ Ba, Việt nam sẽ làm tuần thứ nhất vào thứ hai tuần tới. Phật giáo Tây Tạng sẽ làm tuần vào ngày thứ  Ba. Nếu tắt thở trước giờ Ngọ thì hoàn toàn giống nhau.

            2) Thần thức qua thất thú: Theo lý thuyết, khi con người chết đi, phần tứ đại: xương, thịt, máu huyết v.v...tan vào đất nước gió lửa nhưng còn phần thần thức tức là trung ấm thân, tức là sắc, thọ,tưởng, hành, thức chất chứa trong Mạt Na và A Lại Gia để cứ kiếp này, kiếp khác luân chuyển mãi mãi theo với nghiệp cảm tạo tác  mà nên. Cũng do đó mà thần thức phải qua thất bất khả tỵ
            ---Sinh bất khả tỵ---nghĩa là nhất định lại phải thụ sinh, y cứ vào thiện nghiệp hay ác nghiệp để thụ quả khổ đau hay vui sướng.
            ---Lão bất khả tỵ---đã thụ sinh là phải có sự già yếu không thể tránh được.
            ---Bệnh bất khả tỵ---ốm đau không thể tránh được.
            ---Tử bất khả tỵ---chết không thể tránh được.
            ---Tội bất khả tỵ---tội nghiệp tạo nên không thể tránh được.
            ---Phúc bất khả tỵ---phúc quả tạo nên không từ chối được.
            ---Nhân duyên bất khả tỵ---tất cả mọi nhân duyên thiện ác để thụ sinh không thể tránh được.
Luân lưu qua 7 đường không thể tránh được, thần thức sẽ phải qua thất thú đó là :                                            ---        Hoặc sa địa ngục thú
---        Hoặc đọa ngã quỷ thú
---        Hoặc đọa súc sinh thú
---        Hoặc thành nhân thú
---        Hoặc sinh A tu la thú
---        Hoặc sinh Thần Tiên thú
---        Hoặc sinh Thiên thú

            3) Chung thất: Việc luân chuyển không nhất định là ngày thứ 49 mới là ngày định nghiệp, mà có thể sớm hơn. Nhưng ngày thứ 49 là ngày cuối cùng để qua đủ thất bất khả tỵ, nên nhất định ngày thứ 49 phải định nghiệp. Vì thế quan niệm của Phật giáo xem tuần chung thất là quan trọng nhất đối với người chết. Muốn được ra khỏi vòng luân chuyển, tâm linh của người sống phải ứng hợp với thần thức của người chết để tạo ra một năng lực gọi là “tự tha hỗ tương” mới mong siêu thoát đến chốn an vui. Muốn đạt được mục đích này, điều kiện tiên quyết là sự thành tâm và thanh tịnh của quí vị
“cầu độ”(Ðạo tràng và Tín chủ) mới có thể cảm ứng với linh giác của người “được độ “.

            4) Thập điện Diêm Vương: Mười vị vua ở âm cảnh, mỗi vị ngồi nơi điện mình mà phê các việc tội phước của những “hồn” đã từng sống ở dương gian, hoặc ra lệnh hành tội, ra lệnh thả, hoặc cho đi luân hồi tùy theo tội phước của mỗi mạng
            Liên quan giữa thập điện và các lễ làm tuần:
Ðiện thứ nhất do ngài Tần Quãng Vương,
 làm lễ tuần thứ nhất
Ðiện thứ hai                 Sở Giang Vương                          tuần thứ hai
Ðiện thứ ba                  Tống Ðế Vương                  tuần thứ  ba
Ðiện thứ tư                   Ngũ Quan Vương                tuần thứ tư
Ðiện thư năm               Diêm La Vương                  tuần thứ năm
Ðiện thứ sáu                 Biến  Thành Vương            tuần thứ sáu
Ðiện thứ bảy                Thái Sơn Vương                  tuần thứ bảy
Ðiện thứ tám                Bình Ðẳng Vương           Lễ bách nhật (100 ngày)
Ðiện thứ chín               Ðô Thị Vương                  Lễ tiểu tường (Giỗ đầu )
Ðiện thứ mười              Chuyển Luân Vương      Lễ đại tường (mãn tang)
            Chúng ta là Phật tử, không lẽ nào không tin lời Phật dạy? Hơn nữa, những điều nầy cũng không phản lại thuần phong mỹ tục của dân tộc Việt nam chùng ta là thờ cúng Ông bà, Tổ tiên. Ðặc biệt, mục đích của nghi lễ Phật giáo đã góp thêm cho thuần phong mỹ tục của dân tộc một hương vị đậm đà độc đáo nhất vô nhị, đó là hương vị giải thoát cho hương linh
more.

Hiểu biết về Phật giáo: Hộ niệm

0 nhận xét
            Hộ niệm là một việc làm vô cùng quý báu,tự tha đều lợi lạc. Thiết nghĩ mọi cư sĩ Phật giáo nên tìm hiểu rõ ràng và tích cực tham gia. Chúng ta có cơ hội hành trì, tu học trong các buổi lễ từ hình thức: ăn mặc, đi đứng, nói năng,sắp xếp cho đến nội dung: kinh sách, tán tụng,hầu đạt được trang nghiêm,thanh tịnh, giới luật và an lạc.
            Về phần độ tha, như chúng ta đã biết ngày xưa đức Phật đã dạy ngài Mục Kiền Liên nhờ cọng lực của chư Tăng mới mong cứu độ được mẹ. Ngày nay chúng ta dù không có được thần lực mạnh như chư thánh tăng, nhưng thiết tưởng với nguyện lực phàm phu tha thiết chắc hẳn cũng phần nào ảnh hưởng tốt đối với kẻ cầu độ,trong tài liệu Tịnh độ xưa nay đều có xác tín.
            Tuy nhiên muốn có kết quả mỹ mãn chúng ta phải rõ từng sự việc, để chuẩn bị hộ niệm chính xác  đứng đắng

            I) Cầu an: Mục đích là sám hối tội lỗi, dứt trừ nghiệp chướng, hầu tránh mọi bệnh hoạn, tai họa và nghiệp báo, để được thân tâm an lạc, phước hụê trang nghiêm, đạo tâm kiên cố, Bồ đề tăng trưởng.
 Các trường hợp cầu an: Khánh thành, an vị-Ðăng khoa, thi cử-Thành hôn, vu quy, nhất là trường hợp đau ốm,tai họa do nguyên nhân tội lỗi gây ra.v.v...
Lúc bấy giờ ta vận dụng hết lòng thành, tắm gội thân tâm, tập trung tất cả điện lực cầu nguyện bằng cách: Tụng kinh, niệm Phật, trì chú, bái sám hồng danh.v.v...đối trước Tam bảo. Chính nhờ sức mạnh của tinh thần cầu nguyện này, mà giao cảm đến chư Phật, Bồ tát sẽ phóng quang đến gia hộ cho chúng ta sơm đạt được như ý và hợp chánh đạo. Vì rằng Phật thương chúng sanh như mẹ thương con; chúng sanh nhớ Phật như con nhớ mẹ. Vậy mỗi lúc cầu nguyện chúng ta cần phải thành khẩn và đầy đủ đức tin, mới có sự cảm ứng gia hộ của chư Phật và Bồ tát.

            II) Sắp lâm chung: Lúc một người bệnh hoặc già yếu, sau khi tụng kinh, bái sám mà bệnh nhân quá yếu,thầy thuốc tận tình cứu chữa, cho biết sắp lâm chung.
Những người hộ niệm:--

1) Thân nhân bà con nên giữ thaí độ bình tĩnh:
tụng kinh A Di Ðà và niệm Nam mô tiềp dẫn đạo sư A Di Ðà Phật.
             *Không nên dùng thuốc trợ sinh kéo dài thời gian tắt thở làm cho Thân Trung Ấm bối rối không định tỉnh. Thể xác đau đớn, khó khăn trong việc siêu thoát.
             *Khi nghe không còn cứu chữa được nữa, thường bỏ mặc kẻ sắp lâm chung nằm một mình, đi lo việc ma chay mai táng,đó là điều rất cấm kỵ. Vì bây giờ thần thức kẻ lâm chung tuy rất sáng suốt,nhưng bơ vơ, sợ sệt. Thân nhân phải có mặt bên cạnh để niệm Phật, khuyên răng, chỉ bảo lối đi cho thần thức. Cố tránh gây sân hận, là một điều dễ làm cho hương linh bị sa đọa.

2) Ðạo hữu, bằng hữu nên thành tâm niệm Phật, tụng kinh A Di Ðà. Lưu ý nếu kẻ lâm chung là đàn ông, người hộ niệm đứng phía dưới chân. Nếu kẻ lâm chung là đàn bà, người hộ niệm đứng phía trên đầu.
Khi kẻ lâm chung thở ra , đồng thanh niệm:
            Nguyện sanh tây phương tịnh độ trung, 
 Cửu phẩm liên hoa vi phụ mẫu.
            Hoa khai kiến Phật ngộ vô sanh,            
            Bất thối Bồ tát vi bạn lữ.
            Khuyên bảo gia quyến không nên bịn rịn, khóc lóc. Nên để tâm niệm Phật tiếp dẫn là tốt hơn hết. Ðể kẻ lâm chung không vì tình thương tham đắm cảnh thế gian, chướng ngại cho việc vãng sanh
            Khi tắt thở đến lúc nhập liệm tối thiểu là bốn tiếng đồng hồ,mới được đụng vào thân thể,tốt hơn cả nên để hai mươi bốn tiếng. Vì nghiệp thức khi chưa hoàn toàn bỏ thân xác, cảm thọ sự đau đớn sinh ra sân hận phải đọa vào ác đạo

3) Một vị thầy:Tốt hơn hết là nên mời một vị thầy để trợ niệm tiếp dẫn và vận chưởng giúp đỡ siêu thăng
            *Cách vận chưởng, Tây Tạng gọi là Phowa
            Sau khi hơi thở đã tắt, nhưng thân thể chưa toàn lạnh hẳn, thì cần đến gần bên trái người chết mà gọi tên, niệm Phật vãng sanh, đánh chuông và khánh không ngơi. Ðến khi toàn thân đều lạnh chỉ còn nóng ở đầu và trán: chắc người đã được sanh về tây phương. Chỉ cần niệm Phật và đánh khánh, chuông cho đến hết hơi ấm.
Nếu hơi ấm dồn vào chân: sa vào địa ngục.
                -    đầu gối: sinh vào súc sanh.
                -     bụng: đọa vào ngạ quỷ.
                 -     ngực: chuyển sanh vào nhân đạo.
                -     chân mày: sinh lên cõi trời.
            Chỗ còn hơi ấm cho biết nghiệp thức của kẻ chết còn ở chỗ đương ấm, nên mời một vị thầy,dùng phương pháp chuyển vận giúp cho nghiệp thức chuyển lên đến đỉnh môn. Trường hợp không tìm đâu ra được một vị thầy, thì bất cứ ai, thân nhân hoặc bằng hữu, thành tâm đem hết tâm lực chuyển vận theo phương pháp như sau: Dùng hai bàn tay,ngang nhau, úp trên chỗ ấm , cách da người chết độ nửa tấc tây (50 phân).
            Hai tay xoay chuyển lên trán
            Mắt châm chú vào tay thầm tưởng nghiệp thức kẻ chết phải theo tay mà trở lên
            Miệng niệm : Nam mô đại từ đại bi A Di Ðà Phật
            Xin ngài đến tiếp dẫn vong linh tên . . . . sẽ từ trên đỉnh môn mà ra, sinh về thế giới cực lạc phương tây, quyết định vãng sanh.
            Như vậy đồng một lúc cả ba yếu tố: tinh thần châm chú, tay vận, miệng niệm. Nếu mỏi mệt,thay người khác luân phiên, có khi suốt cả ngày, không nên nghỉ nữa chừng. Phải làm đến lúc còn lưu lại một chút hơi ấm trên đỉnh đầu mới thôi.Như thế nghiệp thức của người chết được gặp Phật và vãng sanh. Người chú nguyện phải là một vị thầy nghiêm minh giới luật, hoặc mời được người tu niệm Phật lâu sẳn lòng từ bi thì tốt hơn cả.

            III) Cầu siêu: Mục đích là sám hối tội lỗi cho người quá vãng, hầu chuyển nghiệp nhân xấu ác của người, khiến họ xa lìa quả báo đau khổ , rời khỏi cảnh giới tối tâm đọa đầy. Cầu cho thần thức người được nhẹ nhàng, thảnh thơi, siêu sanh về nơi thế giới tịnh lạc, chóng thoát luân hồi.
            Vậy cầu siêu là cầu cho người sau khi lâm chung; thời gian 49 ngày là quan trọng hơn cả, theo lý thuyết Phật giáo khi chết tứ đại tan rã, thần thức (thân trung ấm) chuyển từ kiếp này sang kiếp khác theo nghiệp cảm đã tạo tác. Muốn  được ra khỏi vòng luân chuyển, tâm linh của người sống phải ứng hợp với thần thức của người chết để tạo ra một năng lực gọi là” tự tha hổ tương” mới mong siêu thoát đến chốn an vui. Muốn đạt được mục đích này,điều tiên quyết là sự thành tâm và thanh tịnh của quí vị hộ niệm “cầu độ” mới có thể cảm ứng vơí linh giác của người “được độ”. Theo Việt nam các ngày về sau như : bách nhật, tiểu tường, đại tường, húy kỵ vẫn  tiếp tục cầu siêu với sự ước mong giải thoát. Gia quyến cần đặt vấn đề cầu nguyện và hiếu sự lên trên, nên tránh việc sát hại sanh linh, hoặc việc làm có tánh cách gây tội lỗi. Cần nhất là người cầu nguyện phải trai giới thanh tịnh, vận hết lòng thành tập trung vào việc tụng kinh, niệm Phật, sám hối để cầu  nguyện. Thân nhân  của người quá vãng cần làm thêm những việc từ thiện: phóng sanh, bố thí, cúng dường, ấn tống kinh điển.v.v. . .
            Trong kinh Phật dạy: Tụng niệm và làm các việc phước thiện đem công đức ấy hồi  hướng cho hương linh, cũng như gởi lương hướng cho người đi xa vậy. Người đã siêu rồi mau được Phật thọ ký; Người ở các cõi trên mau lên các địa vị cao hơn, hào quang càng sáng tỏ. Người đang sa đọa vào ba đường ác thì cũng nhờ các công đức ấy mà siêu sanh tịnh độ hay thoát khổ lên cõi trời, cõi người.v.v. .
            Ðó là ý nghĩa cầu siêu và việc làm của người còn đối với kẻ mất vậy.
more.

Hiểu biết về Phật giáo: Đại ý các bộ kinh thương tụng

0 nhận xét
            Mỗi tập kinh Phật thuyết ra đều có ý nghĩa giáo huấn tuỳ với căn cơ của chúng sanh. Do đó, muốn biết công đức của mỗi loại kinh tụng, người Cư sĩ cần phải hiểu đại khái tóm lược ý nghĩa của mỗi cuốn kinh.
            Nhựng bộ kinh thường tụng là: A Di Ðà, Phổ Môn, Dược Sư, Thủy Sám, Ðịa Tạng, Báo Ân, Lương Hoàn, Pháp Hoa. Còn những tập kinh dài như: Lăng Nghiêm, Hoa Nghiêm, Ðại Bát Nhã, Bảo Tích.v.v...thì một phần vừa dài, một phần nghĩa lý thâm sâu nên it người tụng đến.
            Vì vậy, với quan điểm nêu lên những điều thường thức để dễ tìm hiểu, ở đây cũng chỉ tóm lược đại ý các kinh thường tụng để có thể tùy căn cơ từng người, từng sự việc chọn lựa mà đọc tụng.

1/ Kinh A Di Ðà
            Phật thuyết kinh này là chỉ cho chúng sanh biết tại cõi Tây phương có đức Giáo chủ mệnh danh là Phật A Di ÐÀ, cõi nước của ngài có đủ mọi cảnh yên vui sung sướng. Ai tụng kinh A Di Ðà cũng có thể được Phật A Di Ðà tiếp đón về nơi Cực lạc, nhưng điều cốt yếu trong kinh chỉ gồm có một câu là:”nhất tâm bất loạn” nghĩa là Phật dạy: từ một ngày cho đến bảy ngày, làm thế nào để có được nhất tâm nghĩa là châm châm chú chú vào việc nguyện cầu khiến được trong lặng hoàn toàn không loạn động thì người đó khi lâm chung sẽ được đức Phật A Di Ðà cùng các vị thánh chúng  hiện ra trước mắt, nếu người đó tâm không có chút gì điên đảo lập tức được vãng sanh.
            Ðức Phât A Di Ðà còn phát nguyện tiếp dẫn chúng sinh kẻ sống cũng như người thác, nếu ai niệm danh hiệu Ngài đều được tiếp sang tịnh độ.
            Do vậy, Kinh A Di Ðà có công năng siêu độ cho các người quá cố. Ðiều chính là phải làm thế nào cho được nhất tâm bất loạn, nếu không luyện được hẳn hoi bất loạn thì cũng phải có sự chí thành chi kinh, mới mong tự độ và độ cho người khác được.

2/ Kinh Phổ Môn
            Phổ môn là một phẩm (phẩm thứ 25) trong kinh Diệu Pháp Liên Hoa nói đến ngài Quán Thế Âm Bồ Tát cùng những hạnh nguyện của ngài, ai nghe đến tên, niệm đến danh hiệu thì ứng tiếng mà linh cảm.
            Ngài Quán Thế Âm Bồ Tát lại thường biến hiện sắc thân thành tất cả các loại chúng sanh để cứu độ cho các chúng sanh. Do vậy, nếu ai mắc tai nạn, gập mọi trở ngại, nhất tâm niệm tụng danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát hoặc chuyên tụng kinh Phổ Môn sẽ giải trừ được mọi khổ nạn.
            Ðiều cốt yếu là khi tụng kinh nầy phải thật thành tâm và phải phát nguyện rộng lớn, làm việc bố thí thì mới có hiệu lực.

3/ Kinh Dược Sư
            Kinh này, đức Phật chỉ dạy cho ta mỗi khi đau ốm phải tìm thầy, chạy thuốc chữa bệnh. Thêm vào đó một phương pháp chữa bệnh linh nghiệm không kém, đó là sức tin tưởng. Tụng danh hiệu đức Ðông Phương Giáo Chủ Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật tức là cầu tìm đúng thuốc chữa đúng căn bệnh của mình, không tin những tà ma yêu nghiệt, những bọn thầy pháp chuyên đem chuyện mê tín dị đoan chữa bệnh khiến phải sa đọa vào vòng hoạnh tử. Lại nữa, trong kinh Dược Sư khuyên ta không được nghe sằng, tin nhảm làm bùa làm phép lung tung, giết hại sinh vật cúng cấp thần linh, ma quái. Nếu làm những chuyện như thế chỉ khiến gia tăng tội lệ mà bệnh không những không khỏi, đôi khi còn bị chết oan là khác.
            Vậy phươnh pháp tụng kinh Dược Sư là tăng trưởng lòng tin chân chính của mình mà chữa bệnh cho chính mình, đồng thời phải lo thuốc thang chạy chữa và tránh những kẻ yêu ma lòe bịp cúng thần tróc quỷ, mới mong bệnh hoạn mau lành.
            Tụng kinh này có công hiệu vì những lý do:
            -Ðức tin càng mạnh thì bệnh càng chóng khỏi.
            -Tránh điều mê tín dị đoan để khỏi bị chết vì lầm thầy, lầm thuốc.
            -Tụng kinh tức là thực hiện phương pháp lắng đọng tâm trí, tâm trí lắng đọng không khởi lên dục vọng, phiền não, lo sợ, rầu buồn, lẽ dĩ nhiên bệnh hoạn không do đâu mà phát sinh hay nắng ra được.
            -Tránh giết hại các loài sinh vật tức là giảm bớt tội khiên và cố nhiên đã được hưởng phúc báo, dù có bệnh cũng mau lành mạnh.
            Ðiều cốt yếu là khi tụng kinh này tưởng nên theo phương pháp “tự tha hổ trợ” nghĩa là dùng sức mình tin tưởng và sức người giúp đỡ, sức người tức là sự minh y của ông thầy thuốc hiệp với sức kỳ nguyện của những người tụng kinh thì nhất định mau khỏi bệnh vậy.

4/Kinh Thủy Sám
            Kinh này có ý nghĩa dùng sức sám hối, cũng ví như lấy nước rửa sạch mọi dơ bẩn. Kinh này sở dĩ được trước thuật ra là do ngài Ngộ Ðạt Quốc Sư khi được nhà vua trao cho chiếc sập đàn hương, lại đối xử vô cùng trọng vọng, ngài Ngộ Ðạt khởi lên một chút vọng tâm nên liền gặp tai nạn, đầu gối thốt nhiên mọc lên cái nhọt (mụt) như hình mặt người. Sau nhờ có sư Tri Huyền chỉ cho biết cách lấy nước nơi một giếng khơi trong chốn am thiền lau rửa, cái nhọt mặt người liền bật ra tiếng kể lại chuyện oan khuất từ mười kiếp trước  vẫn hằng theo dỏi để mong báo oán, nay vì ông Ngộ Ðạt khởi lên dục vọng mà có nhịp trả oán, nhưng nay ngài Tri Huyền đã chỉ dạy dùng nước  giếng Tam Muội mà rửa thì không dám mang lòng oán hận nữa.
            Cũng vì thế mà trong kinh kể ra những điều mà chúng sanh thường hay mắc phải gây thành tội lỗi, lại nói rõ cả những tội nào phải chịu báo nào. Cách thức làm thế nào để tránh tội.v.v...do đó mới đặt tên là Thủy Sám nghĩa là việc sám tội  cũng như nước rửa hết mọi nhơ bẩn vậy.
            Khi tụng kinh này phải nên thành tâm hối lỗi, tất cả những gì đã phạm thề quyết từ nay chừa bỏ, điều thiện gắng làm, điều ác tránh xa. Như thế là tiêu diệt tội khiên của mình và do chỗ tâm mình thanh tịnh như nước trong suốt có năng lực rửa tội cả cho người khác nữa. Bởi ai nghe kinh mà cũng hối lỗi tức nhiên đều trở về nẽo thiện và làm việc thiện tức là tránh hết ác nghiệp đó vậy.

5/ Kinh Ðịa Tạng
            Kinh này thuật lại lời Phật chỉ dạy cho các đệ tử biết nguyện lực của một vị Bồ Tát vô cùng cao rộng:” địa ngục vị không, thệ bất thành Phật”nghĩa là địa ngục mà còn người, ngài thề chưa thành Phật, vị đó là ngài Ðịa Tạng Bồ Tát.
            Cũng do nguyện lực đó mà ngài Ðịa Tạng thường cứu độ chúng sanh trong cõi ngục tù tăm tối. Cho nên kinh này có công năng siêu độ cho thất tổ, cửu huyền và tất cả chúng sanh khổ ách.
            Yếu lý của kinh này là nhân nguyện lớn của Bồ Tát, mình cũng phải phát tâm Bồ đề, tâm lặng tức là thoát khỏi địa ngục, tụng kinh cầu nguyện là lấy sức thần giao cách cảm của mình linh ứng với những linh giác chưa được siêu thoát, nhờ uy lực và thần lực sẽ được siêu thăng. Cho nên tụng kinh Ðịa Tạng có thể đưa người ở chốn tam đồ lục đạo đến nơi bát đức vậy.

6/ Kinh Báo Ân
            Tức là kinh Ðại báo Phụ Mẫu trọng ân, Phật thuyết đến công đức sanh thành dưỡng dục của các bậc cha mẹ, và dạy cho con cháu là phải có bổn phận đền đáp công ơn sao cho xứng đáng.
            Kinh này thường tụng vào các ngày giỗ chạp, hoặc có việc hiếu. Ngươi tụng phải thề nguyện từ nay về sau ăn ở cho phải đạo đối với cha mẹ, đối với các bậc tôn trưởng. Người trong gia đình nghe kinh là phải giữ gìn: trên ra trên, dưới ra dưới, một nhà hiếu thuận, thế cũng là báo ân đó vậy.

7/ Kinh Lương Hoàng
            Toàn bộ kinh này là những lời sám nguyện giải trừ mọi điều tội lỗi. Còn gọi là kinh Ðại Sám. Nội dung kinh này khá dài, nguyên nhân trước thuật kinh này là vì vua Lương Vũ Ðế xưa không tin Phật pháp, chỉ tin ngoại đạo. Thuở còn hàn vi, có vợ là Hy-thị, nhân sự ghen tuông mà tự trầm mình dưới giếng. Ðến khi Lương Vũ Ðế lên ngôi vua thì Hy-thị hóa làm con rắng mãng xà quấy rối cung vi.
            Thỉnh khắp các hàng Thuật sĩ đến chú nguyện mà không công hiệu. Sau có Tề Công Trưởng Lão dạy làm đàn tràng sám nguyện cầu rửa tội khiên ác độc nên nhờ đó Hy-thị hiện thân tạ ơn là đã thác sinh. Từ đấy Lương Vũ Ðế mới tin theo Phật pháp, ví vậy mà tập Kinh Sám Nguyện này đặt tên là Lương Hoàng.
            Cũng vì tụng kinh này rũ sạch được mọi tội lỗi nên nay thường tụng trong việc báo hiếu cha mẹ hoặc ngày giỗ chạp gia tiên.

8/ Kinh Pháp Hoa
            Gọi cho đủ phải là Kinh Diệu Pháp Liên Hoa là một bộ kinh đầy đủ nhất về lý thuyết đại thừa Phật giáo, do đó khi Phật thuyết kinh này, các bậc Tỳ kheo hoặc Cư sĩ không đủ căn cơ đều phải rút lui.
            Ðời nay đều thích tụng và tin tưởng rằng tụng kinh này được vô lượng công đức. Tuy nhiên  nếu quan niệm là chỉ tụng thôi mà có công đức thì ai cũng làm được cả. Phải nên có nhận định tế nhị là: Khi Phật thuyết kinh Pháp Hoa mà ai nghe cũng được thì hà cớ các hàng Tỳ Kheo hay Cư sĩ không đủ căn hạnh lại phải rút lui? Do đó ít nhất mình có tự phát khởi tâm đại thừa, làm đạo Bồ Tát hay không? Tụng kinh rồi có theo được chút gì như trong kinh không? Nếu không thì tụng đôi khi chỉ thêm nghi ngờ và thành luân chuyển mà thôi.
*Ðúng ra, đây chỉ là tóm lược yếu chỉ của mỗi kinh để Cư sĩ chúng ta có được một khái niệm tổng quát làm đầu mối nhận định căn hạnh của mình có thể làm được đến đâu, tín hướng thế nào mà hành trì theo với ước nguyện
more.

Hiểu biết về Phật giáo: Tụng niệm lạy phật

0 nhận xét
            Là Phật tử, nhất là đứng vào hàng cư sĩ, nếu ta chưa biết lạy Phật, tụng kinh và niệm Phật là còn thiếu sót bổn phận chuyên chính của mình.
            Vẫn biết rằng: hiểu sâu giáo lý của Phật, hiểu rõ lý nhân quả, thông đạt mọi ẩn ước của kinh kệ thời không lễ Phật cũng là lễ Phật, không tụng king mà chẳng khác đã thuộc làu kinh. Nhưng , hỏi ai dám tự cho mình là được như vậy?_Vả, nếu đã tự cho mình là đầy đủ cả, không cần lễ Phật tức là đã có một sự ngã mạn, cống cao. Người đã ngã mạn là khó thâm nhập được Phật lý, và những sự suy xét chẳng qua chỉ là lấy ma thuyết tự biện mà thôi.
            Trong các pháp môn lạy Phật, tụng kinh và niệm Phật, người cư sĩ cần có quan niệm chính xác:
            _Lạy Phật là biểu lộ sự tôn kính đấng Giác Ngộ và tự ta tĩnh tâm thức giác ngộ sẵn có của ta, và đồng thời dẹp bớt lòng kêu căng, tự đại, cúi mình đi theo chánh đạo.
            _Tụng kinh là đọc những lời vàng mà đấng Giác Ngộ đã trãi bao kiếp tu tập, di giáo lại cho ta, dạy bảo cho ta biết cách làm cho tâm thanh thái, diệt trừ được mọi phiền não ràng buộc.
            _Niệm Phật là nghĩ nhớ đến đấng Ðại Giác để được theo Ngài, trở về cõi nước thanh tịnh của ngài, mà cõi nước ấy đâu phải xa xuôi, chính tự tâm mình, mình niệm Phật thì tâm thanh tịnh, tâm thanh tịnh tức là Cực Lạc.
            Khi đã có được những quan niệm chân xác như vậy rồi cần phải thực hành để gặt hái được kết quả của sự:”Phúc tuệ song tu”tức là trao luyện cả phần làm phúc làm duyên, huân tu trí tuệ cho thêm sáng suốt, như thế ta phải cố thực hiện ba quan điểm Văn, Tư, Tu tức là nghe thì phải suy ngẫm, suy ngẫm rồi cố làm theo để có thể thóat bến mê sang bờ giác ngộ.
            Cũng có người cho rằng mỗi khi tổ chức tụng niệm ở nhà là rất phiền phức vì phải sắm hoa quả, hương nến.v.v...nếu cứ hàng ngày tụng niệm sắm sửa như thế sẽ rất tốn kém, chỉ ai giàu có mới theo được mà thôi, còn như người ở trong mức sống trung lưu hoặc nghèo nàn thì hoàn cảnh gia đình không cho phép, nên dù có đạo tâm cũng đành xao lãng, do đó không tổ chức lễ tụng ở nhà mà chỉ để ngày Rầm, Mồng một ra chùa lễ Phật, tự cho thế là quá đủ.
            Ðiều e ngại trên, xét về thực tế không phải không có lý, nhưng thực ra chỉ là một ý niệm “trở đạo”,vì như ta đã biết: Lễ Phật là tự tâm, dù không có hương hoa, trà quả, tâm thành Phật vẫn chứng minh. Nếu biện nhiều lễ vật mà tâm còn e ngại về sự tốn phí, thảng hoặc trong gia đình có người thấy phí tổn nhiều mà khởi nên ý niệm không thành, như vậy thì lễ vật kia cũng chỉ là thức vật thừa dư, tâm đã không thành mà mua thức vật thật nhiều cúng Phật có ích gì đâu?
            Cho nên, chỉ một nén hương thơm, toàn gia nhất hướng kính tin thì công đức vô cùng, vô lượng.
            Tóm lại, người cư sĩ phải nên chăm lo lễ tụng ở nhà và nên tổ chức càng giản dị bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu, phải nên lưu ý những điểm sau đây:
            -Chọn thì giờ không xúc duyên đối với gia đình.
            _Tự mình thanh tịnh: thân, khẩu, ý nghiệp.
            _Bàn thờ giản dị, chỉ cần thắp lên nén hương thơm ngát, biểu lộ lòng thành
_Khi lạy Phật, tụng kinh phải nên giữ cho được hoàn toàn yên tĩnh, không nên để con cái, người nhà chạy đi chạy lại lao xao.
_Cần tập luyện để laỵ Phật, tụng kinh, niệm Phật cho đúng phương pháp và cần huấn giáo để toàn thể mọi người trong nhà cùng có ý niệm tin thành.

NIỆM PHẬT


            Niệm nghĩa là nhớ đến, nghĩ đến, đọc nhỏ, đọc lẩm nhẩm. Niệm Phật tức là nghĩ đến, nhớ đến đức từ phụ Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni hay bất cứ danh hiệu nào của mười phương chư Phật, chư Bồ Tát.
            Trong kinh lăng nghiêm, thiên Thế Chí Niệm Phật dạy rằng:”thập phương Như Lai lân niệm chúng sanh như mẫu ức tử, nhược tử đào thệ, tuy ức hà vi. Tử nhược ức mẩu như mẫu ức thời, mẫu tử lịch sinh bất tương vi viễn” nghĩa là:chư Phật mười phương, thương yêu nghĩ nhớ chúng sanh như mẹ nhớ con, nếu con bỏ chạy, thì thương nhớ đâu có ích gì? Nhưng nếu con cũng nhớ mẹ như mẹ nhớ con, mẹ con thương nhớ lẫn nhau thì có khi nào lại xa nhau được
Phật chính là tâm, chúng ta xa Phật tức tự tâm dễ bị rơi vào vô minh vì hoàn cảnh tạo nên, nếu chúng ta vứt bỏ phiền não, quay đầu để nhớ đến Phật, tức là trở về với tự tâm, thì chúng ta đã gần được Phật.
Niệm Phật có nhiều cách, và phương pháp hành trì của mỗi cách cũng có khác nhau, trong phạm vi bài nầy chúng ta chỉ bàn đến pháp môn Luân Quán (còn gọi là lần tràng hạt hay chuỗi hột) mà thôi. Thông thường khi nói đến niệm Phật là chúng ta nghĩ ngay đến Lục Tự Di Ðà tức là:”Nam Mô A Di Ðà Phật” vì trong kinh Di Ðà đức Giáo Chủ cõi Cực Lạc đã dạy:”Trì một ngày cho đến bảy ngày, ai giữ được tâm tư trong lặng không hề tán loạn, khi sắp chết sẽ có đức Phật A Di Ðà cùng các vị Bồ Tát, Thánh chúng hiện đến ngay trước mặt mà hộ trì, khi người đó chết, nếu tâm không điên đảo thì liền được vãng sanh sang cõi Cực Lạc của đức Phật A Di Ðà.
            Trong 48 nguyện của đức A Di Ðà có nói rằng:”Nhược hữu chúng sanh, dục sanh ngã quốc, chi tâm tín nhạo, nãi chí thập niệm, nhược bất sanh giã, bất thủ chánh giác”nghĩa là: nếu có chúng sanh nào muốn sanh sang cõi nước ta, chí tâm tin tưởng, ưa thích, niệm danh hiệu của ta đến niệm thứ mười, nếu không được sanh ở cõi nước ta, ta không thành Phật.
            Tổ Thảo Ðường cũng dạy:”Duy hữu niệm Phật nhất môn tối vi tiệp kính, tự cổ chí kim, ngu trí đồng tu, nam nữ cọng xu, vạn vô nhất thất”,tức là: chỉ có pháp môn niệm Phật là một pháp môn tiến tới thành Phật nhanh nhất, từ ngàn xưa cho đến ngày nay, kẻ trí người ngu đều tu, nam nữ đều có chung một xu hướng niệm Phật thì vạn người không ai chẳng đắc pháp.
            Như vậy, niệm Phật cũng là một pháp môn rất thông dụng và tiện lợi, phù hợp với mọi căn cơ, mọi giới, mọi tầng lớp của Phật tử chúng ta, nếu tinh tấn tu hành thì cũng dễ dàng đi đến thành đạo. Ðiều cốt yếu của niệm Phật là để diệt trừ phiền não, mà phiền não lại do tâm của chính mình tạo nên từng sát na một, nếu niệm Phật từ cuốn họng trở ra, nghĩa là miệng niệm Phật mà tâm thì cứ suy nghĩ lung tung, chuyện nầy chuyện nọ.v.v...niệm Phật như vậy dù niệm một triệu câu cũng như chưa niệm câu nào. Sở dĩ khi còn sơ cơ không có chỗ nương tựa nên tâm dễ tán loạn do đó phải có chuông, mõ hòa nhịp để giữ tâm bớt tán loạn, lại có thêm chuỗi hột, để qua một hạt là phát nguyện trừ đi một phiền não, và hết một tràng hạt là đã diệt trừ được khá nhiều phiền não rồi.
            Ðại cương  phiền não có 108 món, do đó tràng hạt thông thường cũng có 108 hột. Chuỗi hột của Phật giáo Việt nam thường dùng có 3 loại: dài= 108 hột; trung= 54 hột và ngắn= 18 hột Vậy 108 phiền não là gì?
            Phiền não là do 6 căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý nhiễm trước 6 trần của thế gian là: Sắc, âm thanh, mùi, vị nếm, sự đụng chạm và sự liên hợp linh ứng với mọi sự vật. Khi 6 căn nhiễm 6 trần thì phân biệt thành ba trạng huống khác nhau là: Tốt - Xấu – Không tốt, không xấu.
            Tất cả căn, trần và trạng huống luân lưu trong 3 thời: quá khứ, hiện tại, vị lai không bao giờ ngừng nghỉ.
            Chúng ta có kết quả phiền não phát sanh theo sơ đồ sau:

             Căn            Trần                    Cảnh                                                
      1 - Mắt            Sắc                  Ðẹp - xấu - trung binh                               
      2 -  Tai             Thanh             Hay-dở-không hay,không dở                                 
      3 - Mũi             Hương           Thơm - thối - không mùi                                          
      4 - Lưỡi           Vị                    Ngon-không ngon-trung bình
      5 - Thân            Xúc                Thích-không thích-bình thương          
      6 - Ý                 Pháp               Tốt - Xấu – Bình thường             
________________________________________________                                                     
      6 căn                6 trần                  3 cảnh                          
      ________________________________________________
      6 căn    +     6 trần       x     3 cảnh      = 36                               
      36 x 3 thờI (Quá khứ,hiện tại,vị lai)     =108
     ________________________________________________

.Trong pháp môn luân quán, kinh lần tràng hạt còn chia số 108 thành 108 Tôn vị như sau:
            -5 vị Phật trong Kim Cang giới là: Ðại Nhật, A Súc, Bảo Sinh, Vô Lượng Thọ và Bất Không Thành Tựu Như Lai.
            -4 vị Ba La Mật Bồ Tát là: Kim Cang Ba La Mật, Bảo Ba La Mật, Pháp Ba La Mật và Nghiệp Ba La Mật
            -16 vị Ðại Bồ Tát: Di Lặc, Bất Không, Trừ Ưu, Trừ Ác, Hương Tượng , Ðại Tinh Tấn, Hư Không Tạng, Trí Tràng, Vô Lượng Quang, Hiền Hộ, Võng Minh , Nguyệt Quang, Vô Lượng Ý, Biện Tích, Kim Cang Yạng, Phổ Hiền Bồ Tát.
            -12 cúng dường pháp là: Hy Hý , Mạn Ðà La, Ca, Vũ, Hương, Hoa, Ðăng, Ðồ hương và tứ nhiếp là: Kim Cang câu, Kim Cang Sách, Kim Cang tỏa, Kim Cang linh.
            -16 vị Bồ Tát đời Hiền kiếp (theo hiển giáo là: Bạt Ðà Bà La, Bảo Tích, Tinh Ðức, Ðế Thiên, Thủy thiên, Thiện Lực, Ðại Ý, Thù Thắng Ý, Tăng Ý, Thiện Phát Ý, Bất Hư Kiến, Bất HưuTức, Bất Thiểu Ý, Ðạo Sư, Nhật Tạng và Trì Ðịa Bồ Tát .
-20 Thiên vị là: Ðại Phạm, Ðế Thích, Ða Văn, Trì Quốc, Tăng Trưởng, Quãng Mục, Kim Cang Mật Tích, Ma Hê Thủ La, Tán Chỉ Ðại Tướng, Ðại Biện Tài, Ðại Công Ðức, Vi Ðà, Thiên Thần, Kiên Lao Ðịa Thần, Bồ Ðề Thụ Thần, Quỷ Tử Mẩu Thần, Mạ Lỵ Chi Thiên, Nhật Cung Thiên Tử, Nguyệt Cung Thiên Tử, Sa Kiệt La Long Vương và Diêm La Ma Vương.
-5 vị Ðính Luân Vương là: Bạch Tản Cái Phật Ðính, Thắng Phật Ðính, Nhất Tự Tối Thắng Phật Ðính, Hỏa  Quang Phật Ðính và Xã Trừ Phật Ðính Luân Vương.
-16 vị Chấp Kim Cang Thần là: Hư Không Vô Cấu Kim Cang, Kim Cang Luân, Kim Cang Nha, Diệu Trụ Kim Cang, Danh Xưng Kim Cang, Ðại Phận Kim Cang, Kim Cang Lợi, Tịch Nhiên Kim Cang, Ðại Kim Cang, Thanh Kim Cang, Liên Hòa Kim Cang, Quãng Nhãn Kim Cang, Chấp Diệu Kim Cang, Kim Cang Kim Cương, Trụ Vô Hý Luận Kim Cang, Hư Khônh Vô Biên Du Bộ Kim Cang.
-10 Ba La Mật: Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền định, Trí huệ, Phương tiện, Nguyện lực, Trí ba la mật.
-4 Ðại: Ðất, Nước, Gió, Lửa.
Ngoài ra, Số 108 còn gọi là 108 kết tập hoặc 108 kết nghiệp như sau:
88 sử của kiến hoặc là:
a/ Cỏi Dục giới có 32 được chia ra:
            -10 Khổ đế là: tham, sân, si, mạn, nghi, thân kiến, biên kiến, tà kiến,kiến thủ, giới cấm thủ
            -7 Tập đế là: tham, sân, si, mạn, nghi, tà kiến, và kiến thủ.
            -7 Diệt đế là: tham, sân, si, mạn, nghi, tà kiến, và kiến thủ (như Tập đế).
            -8 Ðạo đế là: tham, sân, si, mạn, nghi, tà kiến, kiến thủ, và giới cấm thủ.
b/ Cỏi Sắc giới và Vô sắc giới mỗi cỏi đều có 28 sử, cọng lại thành 56 là:
            -9 Khổ đế là: tham, sân, si, mạn, biên kiến, tà kiến, kiến thủ, thân kiến, và giới cấm thủ.
            -6 Tập đế là: tham, sân, si, mạn, tà kiến, kiến thủ.
            -6 Diệt đế là: tham, sân, si, mạn, tà kiến, kiến thủ.
            -7 Ðạo đế là: tham, sân, si, mạn, nghi, tà kiến, kiến thủ và giới cấm thủ.
10 sử của Tư Hoặc (Tiểu Thừa) là:
a/ Cỏi Dục giới có 4 là: tham, sân, si, mạn.
b/ Cỏi Sắc giới có 3 là: tham, sân, si.
c/ Cỏi Vô Sắc giới có 3 là: tham, sân, si.
10 Triền là:
Không hổ, không thẹn, ganh ghét, keo xẻn, hờn, ham ngủ, lòng bất an, hôn trầm, giận dữ, tráo trở.
            Trên đây là ý nghĩa con số 108 của chuổi hột, và chúng ta chỉ cần nhớ rằng: Niệm Phật là để diệt trừ phiền não, chú tâm vào việc niệm Phật để làm thanh tịnh lục căn, hầu đi đến chỗ thanh tịnh hoàn toàn để gặt hái được kết quả của sự tu hành là đi dần đến chỗ liên niệm không ngừng nghỉ, được như thế là người cư sĩ Phật tử chúng ta đã tiến một bước khá dài trên đoạn đường tu học của một kiếp người ngắn ngủi.

TỤNG KINH


            I/ Ý nghĩa: Theo Phật học Tự Ðiển định nghĩa: Tụng là đọc ra tiếng, đọc thuộc lòng hoặc đọc nương theo bản, đọc cho hiểu, cho nhớ để tu hành, đọc kinh, đọc kệ, đọc chú để cầu nguyện cho phần âm và phần dương .
            Trong kinh A Di Ðà, Phật dạy:”Nhược hửu thiện nam tử, thiện nữ nhơn giai vi nhất thiết chư Phật chi sở hộ niệm giai đắc bất thối chuyển ư A Nậu Ða La Tam Miệu Tam Bồ Ðề (nếu có người thiện nam hay thiện nử nghe kinh mà thọ trì hoặc nghe danh hiệu Phật mà niệm thì người thiện nam, thiện nử ấy đều được các đức Phật hộ niệm cho, đều đến được nơi chánh đẳng, chánh giác không bao giờ thối chuyển). Như vậy tụng kinh, niệm Phật chính là phần việc của những người muốn tu thật sự, dù là cư sĩ Phật tử tụng kinh, niệm Phật cũng được công đức như chư Tăng, Ni.
            Ngoài ra trong kinh Nghiệp báo Sai biệt có dạy rằng:”Ai cao tiếng tụng kinh, lạy Phật được hưởng mười thứ lợi ích như sau:
            1/ Bỏ được sự buồn ngủ.
            2/ Các loài Thiên ma nghe thấy đều phải kinh sợ.
            3/ Tiếng sẽ trong và vang ra khắp mười phương.
            4/ Ba đường (Ðịa ngục, Ngạ quỷ, Súc sanh) đều được thoát khổ.
            5/ Các thứ âm thanh bên ngoài khong xen lộn vào được.
            6/ Tâm thức không bị tán loạn.
            7/ Thân tâm càng thêm dũng mãnh, tinh tiến.
            8/ Chư Phật nghe tiếng thảy đều hoan hỹ.
            9/ Mau tiến tới chánh định.
         10/ Nhất định sẽ về nơi tĩnh lặng hoàn toàn.
            Tất cả mọi khổ não đều do vọng tâm mà ra, nay tụng kinh, niệm Phật, lạy Phật thân tâm dần dần tĩnh lặng thì phiền não tự nhiên bị tiêu diệt hết.
            II/ Phương pháp tụng kinh: Mặc dù tụng có nghĩa là đọc to lên, nhưng không có nghĩa là tiếng nói oang oang thô bạo như thét vào tai kẻ khác. Chúng ta biết rằng mỗi người có một giọng riêng biệt, khác nhau. Nhưng dù tiếng trong, đục,thô, thanh, trầm, bỗng, kim, thổ...nếu chăm chú luyện tập thường xuyên trong việc tụng kinh thì tiếng nói sẽ trở thành êm dịu, dẽ nghe khiến mọi người ưa thích. Phật dạy:”Nhũng ai tụng kinh, lạy Phật nhiều thì tiếng vang xa ra khắp mười phương, ai nghe thấy cũng đều thích thú.”Do đó người cư sĩ Phật tử chúng ta cần biết đến cách tụng kinh và cách đánh chuông mõ.
            a/ Cách tụng kinh: Tụng kinh có hai cách theo tập tục của từng địa phương như : Ngồi thẳng xuống chiếu, hoặc quỳ hay ngồi trên ghế tuỳ theo sự trang trí bàn kinh cao hay án kinh thấp. Nếu ngồi trên ghế hay dưới chiếu đều là y theo phép toạ thiền, chỉ khác nhau ở chỗ một bên nhập định im lặng, một bên phải chăm chú vào việc tụng niệm, ngồi mà tụng thì thoải mái và thời gian lâu dài, còn quỳ hay đứng chỉ làm những lễ ngắn mà thôi. Do đó các vị Tổ Sư ngày xưa thường ngồi mà tụng kinh suốt ngày mới đứng dậy.
            Tụng kinh cũng giống như người chơi đàn, tụng to mà cao, gắt tiếng như người gảy đàn căng dây, tụng nhỏ mà trầm, hoặc rờ rạc như người gảy đàn chùng dây. Dây đàn căng thì mau đứt, người tụng dễ bị lạc tiếng hoặc mất tiếng, mau mệt. Dây đàn chùng thì không thành tiếng, người tụng cũng như người nghe dễ chán nản và hôn trầm. Cho nên tụng kinh là phải giữ cho tiếng vừa phải, không to quá, không nhỏ quá, không cao mà cũng không thấp, không nhanh, không chậm, được như vậy mới đúng là:”Hải hội tất dao văn” tức là khắp chốn đạo tràng ai cũng nghe và khi nghe ai cũng sanh lòng ưa thích.
            Khi tụng kinh , người tụng cần phải hiểu nghĩa, phải suy luận nghĩa kinh, phải biết ngắt câu, ngắt đoạn, tụng có mạch lạc, không được mang chũ của câu nầy nhập sang câu khác, hoặc tụng nhảy hàng, bỏ trang, hoặc thấy dài quá lại bỏ bớt.v.v... Ðúng phép tụng kinh là “khẩu tụng tâm suy” tức miệng tụng trí phải suy nghĩ lời kinh, hiểu thấu đáo nghĩa kinh để đạt được “tâm khẩu tương ưng” tức là tâm cùng lời ứng hợp với nhau.
            Khi ngồi, đứng, quỳ để tụng kinh đều phải tuyệt đối trang nghiêm, không  quạt tay, không nói chuyện, không nhìn qua nhìn lại, không ăn trầu, không nhai kẹo cao su hay nhổ nước bọt.v.v...nếu cảm thấy có “trở duyên” như ho quá, chảy nước miếng, hoặc khô cổ thì phải nghỉ không nên quá cố gắng, gượng gạo mà mất sự tôn nghiêm, trở nên thất kính.
            b/ Cách đánh chuông mõ: Chuông mõ là hai loại pháp bảo để trợ duyên cho việc tụng kinh. Ðánh chuông để điểm câu, để bộc lộ sự hiểu biết mạch lạc của bài kinh mình đang tụng. Ðánh mõ là để giữ nhịp tụng cho đều, bộc lộ âm thanh hòa điệu và tính tình của người tụng.
            Cho nên chuông là biểu hiện đại quan vắng lặng, trí lự của người tụng nương theo, mõ là biểu hiện rung động của cảnh giới tâm thức của người tụng hòa theo.
            Người đánh chuông phải biết chọn chỗ có âm thanh siêu thoát, trong quả chuông có chỗ tiếng thô, tiếng thanh, tiếng gắt, tiếng trầm...phải lựa chỗ có tiếng hay nhất để đánh, và khi đánh phải tế nhận, nương tay, đừng mạnh quá và cũng đừng nhẹ quá, mạnh quá thì tiếng gắt chói tai, nhẹ quá thì không thành tiếng.
            Người đánh mõ là phải tìm huyệt , trong cái mõ có chỗ kêu nhất và ấm nhất chỗ đó gọi là huyệt, khác với những chỗ khác kêu tiếng gỗ. Nếu là mõ ở chùa thường có một chỗ hơi lõm xuống và láng bóng, chính chỗ nầy là huyệt vì quý thầy đã tìm thấy và đánh hoài nên đã bị mòn và lõm xuống. Ðánh mõ phảỉ đúng với nhịp tụng kinh, không nên đánh quá mạnh mà cũng đừng quá nhẹ. Tưởng cũng nên lưu ý khi cầm dùi mõ, phải cầm bằng năm ngón tay, nhẹ nhàng không quá chặt, cùi chỏ kẹp sát nách, không thụt lùi hoặc tới quá mà phải ngang với lưng, khi đánh chỉ bàn tay cử động qua cườm tay chứ không được cử động cả cánh tay, đánh như vậy thì tiếng mõ được thanh tao mà thoát tiếng tức là không bị sức cả cánh tay dằn hảm quá mạnh làm lạc mất tiếng của mõ.
            Tụng kinh là yếu tố tiến tới hiểu đạo nhưng cách đánh chuông mõ lại chính là yếu tố quan trọng trợ duyên và biểu lộ tâm tình của người tụng kinh. Một người đứng ngoài nghe tụng kinh có thể biết được tánh tình của người đang tụng vui vẽ hay u sầu, khi ta nghe tiếng mõ không đều, khi gắt gỏng, khi dồn dập, khi rời rạc; điều đó chứng tỏ rằng người tụng có điều gì bực tức, chán nãn. Có tiếng mõ nghe vui vẽ, có tiếng mõ nghe buồn thảm, có tiếng mõ nghe như thúc dục, cũng có tiếng mõ nghe như quyện lấy tâm hồn; có một âm điệu lâng lâng giải thoát.
            Tóm lại, tụng kinh, đánh chuông mõ là cả một nghệ thuật, hết sức nhịp nhàng như hơi thở điều hòa của một thân thể và tâm hồn không bệnh hoạn, khai chuông mõ đúng cách, chuyển chuông mõ đúng phép, dứt chuông mõ đúng nhịp là biểu thị tâm cảnh và thức quan hòa hợp với nhau, như vậy mới gây được phúc duyên và đem lại sự an lạc cho chính mình và cho mọi người, khắp cùng pháp giới nghe kinh mà được giải thoát.
            III/ Trì kinh: Trong việc tụng kinh có một điều gọi là “trì tụng” nghĩa là chuyên tâm chỉ tụng một thứ kinh nào mà tụng thật đúng thời khóa.
            Tỷ như có vị chỉ chuyên trì chú Lăng Nghiêm, có vị chuyên trì kinh A Di Ðà, kinh Phổ Môn, kinh Dược Sư hay Kim Cương.v.v... đó là tùy theo căn hạnh của mình có duyên với kinh nào thì nên chuyên trì kinh ấy, mà nếu ta chuyên trì được thì  “trì tụng” kinh nào cũng đều công đức như nhau.
            Phải có ý niệm chân xác là: nếu tụng kinh mà chỉ cốt cho mọi người biết rằng ta đây cũng là tín đồ Phật  giáo, ta đây cũng là người tu,ta đây cũng biết tụng kinh, niệm Phật,, mà đối với cách cư xử, hành động thường ngày không theo được một ly một tý nào so với đức hạnh của người cư sĩ thì sự tụng kinh ấy hoàn toàn coi như không có công đức gì vậy.
            Cho nên người cư sĩ đối trước hoàn cảnh gia đình phải nên tùy duyên, tùy phương tiện mà tụng niệm, không cần phải bầy biện tụng kinh thật dài hàng năm bảy ngày như Pháp Hoa, Hoa Nghiêm, Lương Hoàng mà chỉ cần tụng một biến kinh Bát Nhã, niệm Phật lấy một tràng, để hết tâm trí vào việc tụng niệm mỗi ngày chừng nửa giờ hay mười lăm phút cũng được khá nhiều công đức.
            Còn như muốn biết cần tụng kinh nào cho đúng với hoàn cảnh thì thiết tưởng cứ theo phần ý nghĩa của kinh mà thực dụng tức là gây được công đức vậy.
            Tóm lại, người cư sĩ phải nên tụng niệm cho thật thành thuộc, và nên coi việc tụng kinh niệm Phật là một món ăn cần thiết cho mình, bởi chư Phật đã dạy: “Phải tự thắp đuốc mà đi”.Ta thỉnh chư Tăng về tụng niệm đấy là trượng vào tha duyên, tha lực. Tu hành cũng như người ta ăn cơm, chư Tăng cũng như người chỉ dạy cho mình biết cách cầm đũa, biết cách gấp món ăn. mình có ăn mới no, cũng như chính chư Tăng, vị nào có tu mới có chứng. Vì vậy mà Cư sĩ phải lo việc tự tu, tự chứng mới là điều kiện thiết yếu tạo lập “tư lương” cho đời mình vậy.
            IV/ Thì giờ tụng kinh: Người Cư sĩ thường phải lo toan về sự sinh sống hàng ngày cho gia đình nên không thể nhất thiết: Lễ Phật tụng kinh, niệm Phật cả ngày như chư Tăng được. Dù người rỗi rãi tới đâu cũng còn bị hoàn cảnh chi phối. Hoàn cảnh đây là chỉ vào nơi mình cư ngụ, nếu là nhà rộng rãi theo kiểu biệt thự thì còn có vợ, có con ràng buộc không thể mỗi lúc làm xúc duyên cho gia đình; nếu lại ở vào cảnh phố phường đông đúc, nhà cửa chật hẹp thì không những xúc duyên đối với vợ con mà còn làm xúc duyên đối với cảm xóm giềng nữa.
            Do vậy, người Cư sĩ cần phải chia định thời giờ sao cho thuận tiện, chọn lúc nào rảnh rỗi nhất, vắng lặng nhất mà không làm phiền ai, đấy là lúc thực hiện tụng kinh.
            Thường thường ta phải thực hiện việc tụng kinh vào buổi sáng, khoảng 6 giờ, vì khi ấy mọi người đều yên lặng mọi sự mọi vật đều chưa dao động; đấy chính là lúc tụng kinh tốt nhất.

Tụng kinh chọn lúc sáng ngày,
Dương kia chưa động, âm nầy chưa tan.
Lòng còn khoan chưa hề ẩm thực,
Khí huyết điều, thanh, trọc hòa quân,
An nhiên lắng mọi cảnh trần,
Tụng kinh đúng lúc, thiện nhân vê tròn.
more.
Credits Credits